Chương 1 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN LÀ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH CHIẾN LƯỢC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Quan niệm về phát triển bền vững Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và đã ghi lại những dấu ấn đậm nét tương ứng với từng hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi hình thái kinh tế xã hội muốn phát triển đều phải tái sản xuất mở rộng.
Tái sản xuất mở rộng đòi hỏi xã hội phải đạt trình độ năng suất lao động vượt ngưỡng của sản phẩm tất yếu và tạo ra sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều. Sản phẩm thặng dư là nguồn gốc để tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng. Vì thế tái sản xuất mở rộng là loại hình đặc trưng phổ biến của những xã hội có nền kinh tế phát triển, năng suất lao động xã hội đạt đến trình độ cao. Trong bất cứ xã hội nào, quá trình tái sản xuất cũng gồm bốn nội dung đó là: tái sản xuất ra của cải vật chất; tái sản xuất ra sức lao động; tái sản xuất quan hệ sản xuất; tái sản xuất môi trường sinh thái.
Xã hội nào mà không thực hiện đầy đủ, cân đối bốn nội dung trên thì tất yếu xã hội đó sẽ khó có thể đảm bảo tái sản xuất bền vững ở các giai đoạn tiếp theo. Đến thế kỷ thứ XX, khi cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã bùng nổ, chất lượng cuộc sống của xã hội loài người đã có những bước tiến rõ rệt do khoa học, công nghệ và năng suất lao động xã hội mang lại. Của cải được nhân loại tạo ra ngày càng nhiều và phong phú về chủng loại đã phần nào thoả mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người, đã đưa tới sự phát triển nhanh của nền văn minh nhân loại. Song cũng chính từ sự phát triển ấy đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày càng nổi cộm như tăng dân số quá nhanh, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiêu dùng một cách quá mức của cải, tài nguyên, năng lượng, thiên tai, bão lũ, ô nhiễm và sự cố môi trường ngày càng gia tăng đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, gây trở ngại đến phát triển kinh tế và làm giảm sút chất lượng cuộc sống của con người.
Đứng trước áp lực của thực tế khắc nghiệt này, con người không còn cách lựa chọn nào khác là phải xem xét lại những hành vi ứng xử của mình với thiên nhiên, phương sách phát triển kinh tế - xã hội và tiến trình phát triển của mình. Vấn đề bức xúc là con người phải tìm ra một con đường phát triển mà trong đó các vấn đề dân số, kinh tế xã hội, tài nguyên và môi trường được xem xét một cách tổng thể, nhằm hạn chế những tác động cản trở đến sự phát triển của mỗi quốc gia. Cách lựa chọn duy nhất đó là con đường phát triển có sự kết hợp cả về kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ môi trường, đó chính là con đường PTBV. Vào nửa cuối của thế kỷ XX, Liên hợp quốc đã đưa ra ý tưởng về PTBV.
Theo quan điểm của Liên hợp quốc thì một xã hội bền vững sẽ không sử dụng các nguồn tài nguyên có thể tái tạo (đất, nước, sinh vật…) nhanh hơn khả năng tự tái tạo của chúng; sẽ không sử dụng các nguồn tài nguyên không thể tái tạo (khoáng sản, nhiên liệu…) nhanh hơn quá trình tìm ra những loại thay thế chúng. Như vậy, PTBV là sự phát triển lành mạnh, tồn tại lâu dài, vừa đáp ứng được nhu cầu hiện tại, vừa không xâm phạm đến lợi ích của các thế hệ tương lai. Phát triển ý tưởng của Liên hợp quốc, Uỷ ban quốc tế về Phát triển và Môi trường (1987) đã đưa ra định nghĩa: PTBV là một quá trình của sự thay đổi, trong đó việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật, và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người [5]. Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất năm 1992 ở Rio de Janeiro đã đưa ra khái niệm vắn tắt về PTBV và được sử dụng một cách chính thức trên quy mô 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc tế đó là: PTBV là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại mà không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau.
Đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường. Trong đó sự phát triển kinh tế là nguồn gốc, là động lực, sự phát triển xã hội là mục tiêu và sự phát triển môi trường là điều kiện của PTBV [5].1: Quan điểm ba cực trong phát triển bền vững Nguồn: Minh hoạ của tác giả từ [19] Như vậy, PTBV gồm có 3 nội dung cơ bản đó là: Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hoà giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học - công nghệ, đặc biệt chú trọng công nghệ sạch. Bền vững về xã hội là phải xây dựng một xã hội trong đó nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội. Bền vững về tài nguyên và môi trường là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng.
Các dạng tài nguyên không tái 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất. Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được đảm bảo… Để thực hiện mục tiêu PTBV và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) theo Quyết định 153/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Một trong các lĩnh vực chủ yếu cần được ưu tiên đó là phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững.
Quan niệm về nông thôn và phát triển bền vững nông thôn 1. Quan niệm về nông thôn Vùng nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước với điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên khác nhau. Cho đến nay có thể nói chưa có một định nghĩa hay một khái niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn. Khi định nghĩa về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với thành thị.
Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn. Theo các nhà xã hội học, sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị được phản ánh rõ nét dựa trên những tiêu chí như: sự khác nhau về nghề nghiệp, môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng… Tuy nhiên, việc phân biệt giữa nông thôn và thành thị chỉ có tính chất tương đối. Thực tế cho thấy, vẫn còn có sự xen lẫn về đất đai, địa bàn dân cư và các hoạt động kinh tế xã hội, đặc biệt ở các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ. Vì vậy, hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn.
Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường phát triển hàng hoá và khả năng tiếp cận thị trường của nông thôn so với đô thị là thấp hơn. Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân cư trong vùng để xác định. Một số quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp.
Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế. Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác [17].
Nông thôn Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông, đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp. Trong các làng xã truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là nguồn sinh kế chính của đại bộ phận nông dân. Điều này thể hiện ở chỗ, tư liệu sản xuất cơ bản và chủ yếu của nông dân là đất đai. Chính vì vậy ở các làng xã truyền thống có sự gắn kết chặt chẽ giữa nghề nghiệp của người dân nông thôn với nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình.