Chương 1 – Giới thiệu Giới thiệu lý do thực hiện đề tài, mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa của bài nghiên cứu. Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Trình bày các nền tảng lý thuyết cơ bản được sử dụng trong bài nghiên cứu, tóm tắt các bài nghiên cứu trước đó có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng tới chỉ số hạnh phúc HI và nêu mặt hạn chế của chúng. Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu Trình bày và giải thích cụ thể ý nghĩa của các biến trong mô hình nghiên cứu, giới thiệu đầy đủ các phương pháp nghiên cứu được thực hiện. Chương 4 – Kết quả và thảo luận Trình bày các kết quả kiểm định và hồi quy, cũng như xem xét mối quan hệ giữa các biến độc lập lên biến phụ thuộc.
Chương 5 – Kết luận và hàm ý 10 lOMoARcPSD|17343589 Kết luận vấn đề được nghiên cứu, bao gồm nội dung nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, chỉ ra những hàm ý, những vấn đề mà bài đã giải quyết và cũng như những hạn chế của nó. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tổng quan hạnh phúc Từ hạnh phúc được sử dụng theo nhiều cách hiểu khác nhau. Theo nghĩa rộng nhất, nó là một thuật ngữ bao trùm cho tất cả những cái gì được cho là tốt đẹp.
Tuy nhiên hạnh phúc còn được sử dụng với nghĩa hẹp hơn để chỉ cảm giác tận hưởng cuộc sống của chủ thể. Nhìn chung hạnh phúc là mức độ một cá nhân đánh giá chất lượng cuộc sống riêng của họ như một tổng thể theo nghĩa tích cực. Nói cách khác, hạnh phúc chỉ mức độ một người yêu thích cuộc sống mà họ hướng đến. Trong những công trình của các tác giả phương Tây, hạnh phúc thường được giải thích là sự thỏa mãn nhu cầu cá nhân trong một bối cảnh xã hội cụ thể, bao gồm các nhu cầu về vật chất, tinh thần, môi trường tự nhiên và xã hội … Hạnh phúc là mức độ một người đánh giá tổng thể về chất lượng cuộc sống hiện tại của mình, hay nói cách khác là mức độ người đó thấy hài lòng về cuộc sống của mình.
Khái niệm “hài lòng với cuộc sống” có ý nghĩa tương tự và thường được sử dụng để đo lường hạnh phúc. Là cảm nhận chủ quan của con người nhưng hạnh phúc lại dựa trên những yếu tố khách quan – cơ sở tạo nên sự cảm nhận về hạnh phúc – đó là mức độ thỏa mãn của con người trong các mối quan hệ với môi trường sống xung quanh: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nội tâm của chính bản thân mỗi người. Vì thế hạnh phúc có thể đo lường được.2 Chỉ số hạnh phúc HI Hạnh phúc là một đối tượng nghiên cứu cực kỳ khó nắm bắt. Bởi vậy, xưa nay, hạnh phúc vẫn thường là địa hạt của những nghiên cứu thần học và triết học, tức là những nghiên cứu nặng về kiến giải theo kiểu chiêm nghiệm và định tính.
Không thỏa mãn với những giải thích như thế, những năm gần đây, việc quy giản hạnh phúc thành các đại lượng có thể đo đếm được đã trở thành tham vọng của nhiều nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau, kể cả các nhà toán học. Đi theo xu hướng này, Vào tháng 7 năm 2011, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị quyết 65/309 về Hạnh phúc: Hướng tới một định nghĩa toàn diện về sự phát triển. Liên Hiệp Quốc mời các nước thành viên đo lường hạnh phúc của người dân tại các quốc gia, đồng thời sử dụng những dữ liệu thu nhập được để hướng dẫn chính sách công. Sau đó, vào ngày 01 tháng 4 năm 2012, Báo cáo Hạnh phúc Thế giới lần đầu tiên được phát hành dưới dạng văn bản dựa theo nền tảng của Hội nghị Cấp cao Liên Hiệp Quốc - Thịnh vượng và Hạnh phúc, định nghĩa mô hình kinh tế mới đã thu hút được sự chú ý của nhiều quốc gia trên thế giới.
Báo cáo này được viết bởi các Giáo sư John F. Helliwell, thuộc Trường Đại học British Columbia và Viện Nghiên cứu tiến bộ Canada; Lord Richard Layard, Giám đốc của Chương trình Well-Being tại Trung tâm về Hiệu suất kinh tế của LSE; Giáo sư Jeffrey Sachs, giám đốc Viện Trái đất tại Đại học Columbia, Giám đốc SDSN và là Cố vấn đặc biệt của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc. Theo Jeff Sach, “Hạnh phúc là trạng thái thỏa mãn với cuộc sống, về cơ bản đó không phải là một thước đo rằng ai đó cười lớn hay mỉm cười ngày hôm qua, mà là cách họ cảm nhận về cuộc sống của mình”. Theo đó, Liên Hiệp Quốc đã dựa vào thanh biểu đồ để hiển thị Chỉ số Hạnh phúc của toàn thế giới nói chung và cho 10 khu vực toàn cầu nói riêng, sự phân phối của câu trả lời dựa vào thang câu hỏi Cantril và dữ liệu được sử dụng từ Cuộc thăm dò Thế giới hằng năm của Gallup.
Người trả lời sẽ đánh giá cuộc sống của họ hằng ngày theo thang đo từ 0 đến 10, với cuộc sống tồi tệ nhất sẽ là 0 và cuộc sống tốt nhất sẽ là 10. Chỉ số hài lòng càng cao càng chứng tỏ người đó thỏa mãn với cuộc sống của mình từ đó họ càng hạnh phúc. Điều này cho phép báo cáo so sánh mức độ hạnh phúc và bất bình đẳng ở những nơi khác nhau trên thế giới. Đánh giá cuộc sống trung bình của người dân khác nhau đáng kể giữa các khu vực, cao nhất là Bắc Mỹ và Châu Đại 12 lOMoARcPSD|17343589 Dương (1); tiếp theo lần lượt xếp theo thứ tự: Châu Âu (2), Châu Mỹ Latinh và vùng Caribê (3), Trung và Đông Âu (4), Khối thịnh vượng chung của các quốc gia độc lập (5), Đông Á (6), Đông Nam Á (7), Trung Đông và Bắc Phi (8), Cận Sahara (9) và Nam Á (10).
Tóm lại chỉ số hạnh phúc có tiêu chí chung là vật chất đầy đủ, tinh thần thoải mái (bao gồm cả vấn đề dân chủ, công bằng xã hội), chăm sóc về y tế, giáo dục và an ninh tốt cả về yếu tố chủ quan thuộc cá nhân và khách quan đến từ phía xã hội và chính sách của chính phủ. Theo đó, HI cũng chính là thành phần không thể thiếu của chỉ số Hành tinh Hạnh phúc (HPI) do NEF công bố sau này. Cuối cùng, quá trình đo đạc, trắc nghiệm hạnh phúc sẽ mở cái nhìn sâu hơn, thực tế hơn về cuộc sống con người. Tuy một số học giả chưa thỏa mãn với cách thiết kế chỉ số, logic của việc quy giản khái niệm hạnh phúc theo như WHR… Nhưng đến nay, đây vẫn được coi là công trình nghiên cứu uy tín và chưa có quốc gia hay tổ chức quốc tế nào lên tiếng phản đối bản báo cáo này.
Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người GDP bình quân đầu người, hay còn gọi là GDP bình quân đầu người, là một số liệu GDP của mỗi quốc gia trên cơ sở mỗi cá nhân, được tính bằng cách chia GDP của một quốc gia cho số lượng dân số. GDP bình quân đầu người là một thuật ngữ chuyên ngành quen thuộc được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế. Đây được đánh giá cụ thể là một thước đo phổ quát trên toàn cầu để đo lường mức độ giàu có, chỉ dấu ấn toàn diện về sức khỏe kinh tế của các quốc gia. Trên toàn thế giới, GDP bình quân đầu người được sử dụng bởi các nhà kinh tế cùng với GDP để phân tích mức độ thịnh vượng của một quốc gia và khả năng tăng trưởng kinh tế của nó.
Hiện nay, top 10 quốc gia có GDP bình quân đầu người lớn nhất thế giới gồm có: Luxembourg (131.515 USD), Na Uy (82.844 USD), Đan Mạch (67.619 USD) và Qatar (61. Mười quốc gia này cũng lần lượt nằm trong top đầu của bảng xếp hạng các quốc gia hạnh 13 Downloaded by v? ngoc (vuchinhhp10@gmail.com) lOMoARcPSD|17343589 phúc nhất thế giới do Mạng lưới Giải pháp Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc thực hiện. Dựa trên chỉ số GDP bình quân đầu người, Luxembourg đang là quốc gia giàu nhất hiện nay, giàu hơn 471 lần so với quốc gia nghèo nhất là Burundi. Mặc dù chi phí sinh hoạt ở Luxembourg rất đắt đỏ nhưng mức sống về hàng hóa và dịch vụ được sản xuất là cao nhất trên thế giới và chỉ 4% dân số phàn nàn về mức sống thấp.
Điều này cho thấy đây là quốc gia thịnh vượng và phát triển bậc nhất thế giới. Còn ngược lại, quốc gia nghèo nhất Burundi cũng được Liên hợp quốc coi là một trong những nước kém phát triển nhất. Trong báo cáo Hạnh phúc Thế giới lần thứ tư, đứng ở vị trí thấp nhất là Burundi, nơi chứng kiến bất ổn chính trị và những mối đe dọa về bạo lực. Chỉ số hạnh phúc ở nước này còn thấp hơn cả Syria, nước xảy ra nội chiến đã cướp đi sinh mạng của hơn 250.000 người trong vòng 5 năm qua.
Năm 2021, GDP Việt Nam đạt khoảng 368 tỷ USD, đứng thứ 5 trong khu vực và thứ 41 trên thế giới. Forbes nhận định GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng trưởng vô cùng ấn tượng nhất trong số tất cả các quốc gia trên thế giới. Xu hướng này phản ánh tính năng động của nền kinh tế và sự phát triển vượt bậc của Việt Nam trong những năm qua. Mặc dù GDP bình quân đầu người không phải là một thước đo hoàn hảo cho sự thịnh vượng khi nó vẫn còn tồn tại rất nhiều thiếu sót.
Tuy nhiên, đến hiện tại vẫn chưa có một chỉ số nào có thể thay thế GDP bình quân đầu người, phản ánh thành công kinh tế và sự phát triển của một quốc gia. Chỉ số này vẫn còn được thế giới nói chung và các nước phát triển nói riêng tin dùng. Từ đấy nhóm tác giả cho rằng GDP bình quân đầu người chính là công cụ tuyệt vời đại diện cho yếu tố kinh tế thị trường. Vậy câu hỏi đặt ra là liệu kinh tế có ảnh hưởng đến sự hạnh phúc của một quốc gia? GDP bình quân đầu người có tác động như thế nào đến chỉ số hạnh phúc HI? Cũng giống như vấn đề muôn thuở “tiền có đem lại hạnh phúc?”.
Đề tài sẽ nghiên cứu chất lượng cuộc sống của một quốc gia theo đà phát triển của xã hội dưới góc nhìn kinh tế của quốc gia đó. Điều này sẽ được thể hiện qua mối quan hệ giữa GDP bình quân đầu người với chỉ số HI. Dựa vào ví dụ về hai nước Luxembourg và Burundi đã đề cập ở trên, nhóm tác giả nhận thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa hai biến số này.