CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐÓI NGHÈO, THỬ NGHIỆM ĐỐI CHỨNG NGẪU NHIÊN VÀ THỬ NGHIỆM ĐỐI CHỨNG NGẪU NHIÊN TRONG NGHIÊN CỨU CHỐNG ĐÓI NGHÈO 1. Khái niệm đói nghèo Theo Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (2012), “Đói nghèo là một khái niệm đa chiều vừa dễ và vừa khó để định nghĩa. Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc. Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất.
Sự thiếu thốn vật chất còn có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng của những khu vực mà người nghèo thường sinh sống, là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác. Tại các khu vực này, ngay cả một hộ gia đình có điều kiện kinh tế chi trả cho những dịch vụ kể trên cũng có thể gặp khó khăn về nguồn cung. Nói một cách khác, sự thiếu thốn vật chất còn thể hiện ở những khía cạnh về địa lý. Thiếu thốn vật chất thể hiện ở khía cạnh địa lý là một vấn đề lâu đời trong lịch sử loài người.
Điểm khác biệt về đói nghèo trong thế kỷ 21 là vì các cá nhân bắt đầu có ý thức hơn về sự thiếu thốn vật chất của bản thân; nhìn nhận sự thiếu thốn vật chất một cách tiêu cực và cảm thấy khó khăn trong việc vượt qua sự thiếu thốn vật chất. Điều này đúng cho khu vực Châu Á và Thái Bình Dương cũng như đúng cho toàn thế giới. Việc không được đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản trong cuộc sống đã khiến cho con người có cảm giác không an toàn, dễ bị tổn thương và cảm thấy ‘thấp cổ bé họng’ trong mối quan hệ với người khác, là những dấu hiệu điển hình của những người thiếu thốn về vật chất. Những dấu hiệu này cho thấy đói nghèo là kết quả của một loạt các tác động về xã hội, kinh tế, chính trị và văn hoá - những tác động có nguồn gốc nội tại và phát sinh trong quá trình vận hành giữa các cộng đồng và xã hội, 15 những tác động này đồng thời cũng tạo ra sự giàu có cùng tồn tại song song với sự thiếu thốn vật chất và sự xa lánh của xã hội.” Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN) (2008): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.
Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh.” Ngoài ra, còn có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghèo đói. Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (2004): “Nghèo đói là tình trạng thiếu khả năng tiếp cận với hàng hóa, dịch vụ, tài sản và cơ hội thiết yếu mà mỗi người có quyền được hưởng. Mọi người cần thoát khỏi nạn đói, cần có khả năng tiếp cận với cách dịch giáo dục cơ sở và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản.
Các hộ nghèo có quyền duy trì cuộc sống bằng chính sức lao động của họ và được trả công một cách hợp lý, cũng như được nhận sự bảo trợ khi có biến động bên ngoài.” Gần đây, chúng ta còn có thêm khái niệm “nghèo đa chiều”. Theo Liên Hợp Quốc (2005), vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản.
Tuy nhiên, theo Oxfam và ActionAid (2010), chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản. Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập. 16 Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống, theo Đặng Nguyên Anh (2015).
Chuẩn nghèo Theo World Bank năm 2015, chuẩn nghèo quốc tế là 1,9 đô-la/người/ngày. Theo chuẩn này thì có khoảng 10% dân số, tức khoảng 736 triệu người sống dưới mức nghèo. Ở Việt Nam, theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg Về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, về thu nhập, chuẩn nghèo ở Việt Nam là 700.000/người/tháng ở nông thôn và 900.000/người/tháng ở thành thị. Về mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, người nghèo không tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ) là y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin hoặc các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
Về tiêu chí hộ nghèo cận nghèo, theo quyết định này, hộ nghèo ở khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Ở khu vực thành thị hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. 17 Hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ cận nghèo ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Các nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo Theo Ted K. Bradshaw (2006), đói nghèo khởi nguồn từ bốn nguyên nhân sau: Thứ nhất, đói nghèo bắt nguồn từ sự yếu kém cá nhân. Tiền đề cốt lõi cho kết luận này là việc mỗi cá nhân luôn tìm cách tối đa hóa phúc lợi của bản thân thông qua các lựa chọn và đầu tư các nguồn lực của mình. Khi một cá nhân chú trọng các lựa chọn hướng đến lợi ích thấp và ngắn hạn, họ sẽ phải chịu trách nhiệm cho sự lựa chọn của mình - ví dụ việc chọn bỏ học đại học hay các chương trình giáo dục giúp họ tìm được một công việc được trả lương cao và ổn định khác.
Đi xa hơn, nhiều nhà kinh tế học còn cho rằng việc người nghèo thiếu động lực cải thiện cuộc sống của bản thân là do tác động từ các chương trình hỗ trợ, tăng phúc lợi cho người nghèo. Gwartney và McCaleb (1985) nói rằng: “Các chương trình phúc lợi cho người nghèo đã đưa ra một hệ thống hỗ trợ sai lầm, làm thui chột y chí phấn đấu và bao biện cho các lựa chọn tồi tệ của họ.” Ngày nay, lý thuyết này đã bị bác bỏ về mặt khoa học, nhưng tinh thần của nó vẫn được áp dụng trong các chính sách chống đói nghèo hướng về khen thưởng và trừng phạt - cách được xem là để thay đổi hành vi cá nhân. Thứ hai, nghèo đói bắt nguồn từ các niềm tin văn hóa góp phần củng cố văn hóa nghèo đói theo vùng miền hay theo nhóm cư dân nhỏ. Lý thuyết này cho rằng chính những niềm tin, giá trị, kỹ năng mà một nền văn hóa nhỏ sản sinh và truyền từ đời này sang đời khác, thấm sâu vào mỗi cá nhân thuộc nền văn hóa đó, đã góp phần tạo ra tình trạng đói nghèo; ví dụ các nền văn hóa nhỏ lẻ của các nhóm người nhập cư hay của các khu ổ chuột.
Đồng thời, ngược lại, một số nền văn hóa thiểu số lại có những niềm tin, giá trị và kỹ năng giúp các cá nhân thuộc nền văn hóa ấy vươn lên thoát nghèo, thậm 18 chí đạt được nhiều thành tựu trong cuộc sống, điển hình như nhóm người nhập cư Á - Ấn ở Mỹ. Thứ ba, nghèo đói bắt nguồn từ sự bất bình đẳng trong kinh tế, chính trị, xã hội. Đây là một lý thuyết tiến bộ, cho rằng nguồn gốc của nghèo đói không xuất phát từ mỗi cá nhân, mà do hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội bất cập đã khiến nhiều người chỉ được tiếp cận với rất ít nguồn lực và cơ hội - những thứ giúp người ta có thu nhập ổn định. Ngày nay, càng có nhiều nghiên cứu ủng hộ ý kiến cho rằng hệ thống kinh tế, xã hội hiện tại đang khiến những người nghèo ngày càng tụt hậu dù họ có năng lực và nỗ lực thế nào.
Các nghiên cứu của Blank (1997) và Quigley (2003) cho thấy hệ thống kinh tế đã tạo ra nhiều rào cản ngày càng khó khăn cho những người có tay nghề thấp muốn tìm việc (lương thấp, các phúc lợi như bảo hiểm y tế, khả năng thăng tiến, cơ hội nâng cao tay nghề hay trình độ…).