CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Vấn đề chung về FDI 1. Khái niệm, hình thức và động lực của FDI Khái niệm FDI Mặc dù FDI là một hoạt động phổ biến nhưng hiện có nhiều quan niệm về FDI được đưa ra với các cách tiếp cận và diễn giải khác nhau.
Tuy vậy, các khái niệm về FDI có những điểm tương đồng nhất định về chủ thể, mục đích, phương thức hoạt động. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) (1977), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được định nghĩa là “một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác”. Theo WTO (1996), FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước có một tài sản ở một nước khác cùng quyền quản lý tài sản đó. UNCTAD (1999) cho rằng FDI là một khoản đầu tư dài hạn và phản ánh lợi ích lâu dài đến từ sự kiểm soát của nhà đầu tư hoặc công ty mẹ đối với các xí nghiệp, chi nhánh ở một nền kinh tế khác.
Theo OECD (1999), “FDI phản ánh việc đạt được mục tiêu về lợi ích lâu dài của một thực thể thường trú trong một nền kinh tế và một cư dân chủ thể của một nền kinh tế khác hơn là của nhà đầu tư. INCOTERMS (2010) định nghĩa FDI là một bộ phận của tài khoản quốc gia, là một khoản đầu tư tài sản của nước ngoài không bao gồm khoản đầu tư document, khoa luan25 of 98. tai lieu, luan van26 of 98. 12 vào thị trường chứng khoán.
Theo Luật Đầu tư 2014, sửa đổi 2016 và Luật Đầu tư 2020, FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định. Có thể khái quát, FDI là một loại hình của đầu tư quốc tế, trong đó chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp tham gia điều hành và quản lý hoạt động sử dụng vốn. Về thực chất, FDI là sự đầu tư của các cá nhân, công ty (hầu hết là các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia) nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài (vốn vật chất gồm nhà xưởng, máy móc. và công nghệ sản xuất.) và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó.
Đây là loại hình đầu tư, trong đó nhà đầu tư nước ngoài tham gia đóng góp một số vốn đủ lớn vào việc sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia quản lý, điều hành đối tượng đầu tư nhằm mục đích thu được lợi nhuận cao hơn qua việc triển khai sản xuất kinh doanh ở nước ngoài. Do có nguồn gốc từ các nước phát triển nên FDI thường coi là nguồn hỗ trợ và lan tỏa công nghệ cho nước tiếp nhận nếu có chính sách phù hợp. Các hình thức chủ yếu của FDI Hình thức FDI được phân tích và nhìn nhận dưới nhiều tiêu chí và giác độ khác nhau như vốn đầu tư, nhà đầu tư, hay nước tiếp nhận đầu tư. Mỗi giác độ lại có các phân loại riêng về hình thức đầu tư, như: theo tiêu chí vốn và vai trò quản lý hoạt động (Hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài), trên giác độ nhà đầu tư (đầu tư theo chiều rộng, theo chiều sâu, kết hợp cả chiều rộng và chiều sâu), trên giác độ của nước tiếp nhận đầu tư (thay thế hàng hóa nhập khẩu, hướng ra xuất khẩu), hình thức hợp tác công tư,.
Động lực của FDI Khi một công ty đầu tư ra nước ngoài tức là đang theo đuổi một loạt các document, khoa luan26 of 98. tai lieu, luan van27 of 98. 13 mục tiêu khác nhau, do đó, động lực chắc chắn không giống nhau. Hơn nữa, các động lực có thể thay đổi theo thời gian vì phụ thuộc vào cấu trúc sở hữu của công ty và đặc điểm của các quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Để giải thích động lực thu hút FDI, có rất nhiều lý thuyết khác nhau: Lý thuyết lợi ích cận biên của Dougall- Kemp (1960): xuất phát từ sự khác nhau về năng suất biên của vốn, dẫn đến việc di chuyển vốn từ nơi có năng suất biên thấp sang nơi có năng suất biên cao. Mặc dù, lý thuyết này chưa giải thích được lý do vì sao một quốc gia vừa có dòng vốn di chuyển ra nhưng đồng thời có cả dòng vốn di chuyển vào, nhưng đây vẫn là một lý thuyết được sử dụng khá phổ biến. Lý thuyết về sức mạnh thị trường của Hymer (1960) khẳng định yếu tố cốt lõi thúc đẩy và làm nên thành công cho nhà đầu tư là khả năng chi phối thị trường thông qua bí quyết công nghệ, bí quyết thương mại hoặc kiến thức, kỹ năng đặc biệt, lợi thế vượt trội của nhà đầu tư này so với nhà đầu tư khác. Lý thuyết về chu kỳ sống sản phẩm của Vernon (1966): FDI là sự phản ứng của các nhà đầu tư thích ứng với thay đổi trạng thái sản phẩm.
Để duy trì sự tồn tại và phát triển sản phẩm, các nhà đầu tư di chuyển vốn ra thị trường nước ngoài. Lý thuyết này chỉ giải thích lý do FDI dựa theo nguyên lý vòng đời sản phẩm mà không giải thích được vì sao các dạng FDI khác lại không hiệu quả hoặc kém hiệu quả hơn. Lý thuyết chiết trung của Dunning (1993) đưa ra ba yếu tố tác động đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của nhà đầu tư là lợi thế về sở hữu (Ownership); lợi thế về vị trí (Location) và lợi thế về gắn kết nội bộ (Internalization) của doanh nghiệp. Tuy nhiên, lý thuyết chiết trung bị phê phán khi cho rằng hoạt động đầu tư chỉ diễn ra khi hội đủ cả ba yếu tố.
Bên cạnh đó các nhà nghiên cứu kinh tế còn chỉ ra một số động lực thúc đẩy đầu tư nước ngoài, được Dunning (2003) tổng kết thành bốn nhóm thúc document, khoa luan27 of 98. tai lieu, luan van28 of 98. 14 đẩy FDI, đó là: “tìm kiếm tài nguyên, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm nguồn lực và tìm kiếm tài sản chiến lược”. Một số vấn đề căn bản về khu vực FDI Quan niệm và đặc điểm khu vực FDI Khu vực FDI là khu vực bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn bên nước ngoài đóng góp là bao nhiêu.
Ở Việt Nam, quan niệm về khu vực FDI gắn với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần và sự thu hút mạnh mẽ của dòng vốn FDI thông qua các chính sách khuyến khích của nhà nước. Khu vực FDI đã được coi là một khu vực kinh tế độc lập, một bộ phận hợp thành của nền kinh tế, bên cạnh các khu vực kinh tế khác như kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước. Quan điểm nhất quán của Đảng và Chính phủ là coi khu vực FDI là bộ phận hữu cơ, không thể tách rời của nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù vậy, khu vực FDI vẫn là một khu vực mang những đặc điểm khác biệt so với các khu vực khác, cụ thể: Thứ nhất, khu vực FDI gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các TNCs.
Các nước đang phát triển có thể tiếp cận với TNCs thông qua hoạt động FDI để thu hút nguồn vốn lớn, công nghệ nguồn, công nghệ hiện đại, trình độ quản lý, cải thiện năng lực cạnh tranh… Thứ hai, khu vực FDI chủ yếu là hoạt động đầu tư của tư nhân với mục tiêu cơ bản là lợi nhuận. Vì thế, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI phần lớn là những lĩnh vực có khả năng mang lại lợi nhuận cao, nhưng đôi khi mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Thứ ba, khu vực FDI gắn liền với việc di chuyển các yếu tố đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia. Các yếu tố đầu tư có thể là tài sản hữu hình, tài sản document, khoa luan28 of 98.
tai lieu, luan van29 of 98. 15 vô hình hoặc tài sản tài chính. Do đó, đối với từng loại tài sản khác nhau đòi hỏi nước tiếp nhận đầu tư phải có những cơ chế, chính sách bảo hộ quyền của chủ đầu tư sao cho phù hợp với tính chất và đặc điểm của từng loại. Chính những điểm khác biệt ấy mà khu vực FDI cần có sự định hướng và quản lý của nhà nước để hướng sự phát triển của khu vực này theo mục tiêu phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Vai trò của khu vực FDI đối với sự phát triển kinh tế Quan niệm trên thế giới về vai trò của khu vực FDI Trên thực tế, khu vực FDI được xem là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các chủ thể - cả bên đầu tư cũng như bên nhận đầu tư. Hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều quan điểm đối lập nhau về vai trò và tác động của khu vực FDI. Quan điểm không ủng hộ FDI cho rằng, khu vực FDI với sự hiện diện của các công ty đa quốc gia chuyển giao công nghệ đến các nước đang phát triển đã gây ra tình trạng thất nghiệp trên quy mô lớn, các công ty này chủ yếu giành độc quyền hơn là đưa các nguồn lực tư bản mới vào, khu vực FDI làm thay đổi vị trí hơn là việc tạo dựng và tăng cường cho các doanh nghiệp trong nước, không giúp cải thiện được cán cân thanh toán mà thậm chí là làm trầm trọng thêm. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu cho rằng việc tiếp nhận đầu tư nước ngoài sẽ làm nảy sinh một số vấn đề liên quan như tăng nợ nước ngoài, tăng sự phụ thuộc kinh tế… Khu vực FDI cũng bộc lộ một số những hạn chế hay tác động ngược đối với nước tiếp nhận đầu tư.
Những tác động ngược này có thể ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Việc đón nhận một số lượng lớn trang thiết bị máy móc lạc hậu đã biến các quốc gia nhận đầu tư trở thành “bãi thải công nghiệp”. Sự xuất hiện của khu vực đầu tư nước ngoài có thể làm suy yếu khu vực trong nước, nơi mà các doanh nghiệp gần document, khoa luan29 of 98. tai lieu, luan van30 of 98.
16 như không đủ khả năng cạnh tranh với các tập đoàn lớn nước ngoài.