phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục viết tắt, bảng biểu luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài để phát triển công nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh Chƣơng 2 : Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong phát triển công nghiệp ở tỉnh Phú Thọ Chƣơng 3 : Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm thúc đẩy thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài để phát triển công nghiệp ở Phú Thọ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 z 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Khái niệm * Vốn đầu tƣ Theo Luật Đầu tư năm 2005: “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp”[13]. Như vậy, vốn đầu tư có thể tồn tại dưới những dạng khác nhau như vốn tài chính (tồn tại dưới hình thái tiền tệ), vốn tài nguyên với những hình thái hiện vật khác nhau, vốn vô hình (các sản phẩm khoa học công nghệ, vị trí địa lý thuận lợi, thương hiệu, uy tín hãng.), vốn nhân lực (số lượng, chất lượng nguồn nhân lực). Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường dù vốn đầu tư với tư cách là nguồn lực kinh tế thường được quy thành những lượng giá trị nhất định.
Việc quy các nguồn lực kinh tế thành những đại lượng giá trị là tất yếu trong điều kiện kinh tế thị trường. Vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường có những đặc điểm chủ yếu: - Bên cạnh hình thái hiện vật vốn luôn được biểu hiện dưới hình thái giá trị thành những lượng tiền nhất định (có thể bằng tiền mặt hay tượng trưng ngầm định). - Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng không phải tất cả tiền đều là vốn. Vốn chỉ bao gồm những lượng tiền dùng cho đầu tư hoặc kinh doanh để có thu nhập trong tương lai, những lượng tiền được chi tiêu để phục vụ tiêu dùng cá nhân của chủ thể không phải là vốn.
- Vốn là hàng hoá đặc biệt: quyền sử dụng có thể tách khỏi quyền sở z 9 hữu; giá trị sử dụng và giá trị không mất đi trong sử dụng mà ngược lại được bảo tồn và thậm chí còn tăng thêm. Vốn được lưu thông trên loại thị trường đặc biệt là thị trường vốn. Qua đó, có thể thấy vốn tài chính là hình thái tồn tại phổ biến của vốn đầu tư và khái niệm vốn đầu tư sẽ đề cập chủ yếu tới vốn tài chính. Nếu xét theo nguồn gốc hình thành, có thể phân biệt vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài.
Nếu xét theo hình thức sử dụng vốn, có thể phân biệt vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp. Vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài: (FDI) Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này, chẳng hạn: Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa ra khái niệm FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trưc tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp FDI trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận FDI. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD) đưa ra khái niệm: FDI phản ánh những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thể kinh tế tại một nước (nhà đầu tư) đạt được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác với nền z 10 kinh tế thuộc đất nước của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp).
Đầu tư trực tiếp bao hàm sự giao dịch ngay từ đầu và tất cả những giao dịch vốn tiếp sau giữa hai thực thể được liên kết một cách chặt chẽ. Quan điểm về FDI của Việt Nam theo quy định tại Điều 3 Luật đầu tư năm 2005: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” [13, Tr 15]. Tóm lại: Các khái niệm khác nhau về FDI đều thống nhất ở các điểm như: FDI là hình thức đầu tư quốc tế, cho phép các nhà đầu tư tham gia điều hành hoạt động đầu tư ở nước tiếp nhận đầu tư tuỳ theo mức góp vốn của nhà đầu tư. Trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, quyền sở hữu gắn liền với quyền sử dụng tài sản đầu tư.
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là biểu hiện bằng tiền hoặc tài sản do tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài mang vào nước khác (nước tiếp nhận) để thực hiện kinh doanh theo luật pháp của nước tiếp nhận nhằm thu được lợi ích. Các nhà đầu tư có quyền điều hành doanh nghiệp tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình. Theo khái niệm này, các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư bằng tài sản ở nước tiếp nhận đầu tư nhưng phải là những loại tài sản do nước tiếp nhận đầu tư quy định trong luật pháp chứ không phải bất kỳ loại tài sản nào. Nguồn vốn đầu tư không chỉ bao gồm nguồn vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.
Vốn đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài: (FII) Là hình thức chủ đầu tư nước ngoài chỉ bỏ vốn chứ không trực tiếp z 11 quản lý, ví dụ: mua cổ phiếu, trái phiếu. Hiện nay, các quốc gia đang phát triển thường không khuyến khích FII vì nó là một trong những nguy cơ gây ra khủng hoảng tài chính. Như vậy có thể hiểu, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi. Trong đó quyền sở hữu gắn liền với quyền sử dụng vốn.
Điều đó cũng có nghĩa là nhà đầu tư sẽ được hưởng lợi khi hoạt động kinh doanh có hiệu quả hoặc tự chịu rủi ro khi hoạt động đầu tư bị thua lỗ. Ngày nay, nguồn vốn FDI đang có vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển, vì vậy cạnh tranh để thu hút vốn FDI giữa các nước đang phát triển với nhau có xu hướng gia tăng. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2008, Việt Nam cũng đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư nhằm hấp dẫn và nâng cao hiệu quả sử dụng FDI, Chính phủ đã có Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP ngày 24/02/2011 về một số biện pháp cấp cách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, thì vấn đề hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nói chung và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI càng có vai trò quan trọng. Vai trò cơ bản của thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với phát triển công nghiệp Sự vận động của các luồng vốn FDI vào các nền kinh tế đang phát triển đã tạo ra những thay đổi về chất và lượng các điều kiện để phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng, thể hiện: 1.
Góp phần bổ sung nguồn vốn phát triển công nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đa số các quốc gia sử dụng FDI là nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế này, các nước nghèo thường chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp với công nghệ z 12 lạc hậu, năng suất thấp, thu nhập thấp và tích luỹ thấp. Để vượt lên có thể bắt đầu từ khâu tạo ra sản lượng và thu nhập ngày càng tăng, muốn như vậy cần phải có vốn, đây là khó khăn nhất của nước nghèo. Để có vốn các nước này chỉ tiến hành bằng con đường tích luỹ nội bộ, nhưng trong xu hướng phát triển như hiện nay nếu chỉ trông chờ vào quá trình tích luỹ nội bộ thì khó tránh khỏi tụt hậu.
Tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài là bước đi hiệu quả nhất cho các nước phát triển, trong đó nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thực chất của việc làm này là tận dụng điều kiện khách quan thuận lợi mà thế giới đã tạo ra “đi tắt, đón đầu”, thay vì phải mất thời gian để tích luỹ. Vốn đầu tư nói chung là yếu tố có tính quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Mặt khác, tìm kiếm lĩnh vực và địa bàn đầu tư có khả năng thu lợi nhuận cao là bản chất của nhà đầu tư nước ngoài.
Do các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn những ngành sản xuất, những địa bàn thuận lợi để đầu tư, nên Chính phủ cần phải dành một số vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào những vùng đặc biệt khó khăn, những ngành trọng điểm, những lĩnh vực thấy không nên có yếu tố nước ngoài,. nhằm tạo nên sự phát triển cân đối trong đầu tư. Vì vậy, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng tạo ra năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế và tiến tới phát triển bền vững. Tạo điều kiện để thực hiện chuyển giao công nghệ Công nghệ là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò của công nghệ lại càng khẳng định rõ.