Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Khuyến nghị giải pháp 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận các yếu tố liên quan, các nghiên cứu thực nghiệm, khung phân tích tác động của FDI, sự thay đổi công nghệ, sự phát triển tài chính của báo cáo được trình bày ở Hình 2.1: Khung lý thuyết Dựa trên khung lý thuyết được đưa ra ở phần trên, các giả thuyết được đưa ra là: Giả thuyết H1: Việc thu hút FDI có tác động làm giảm tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở các quốc gia ASEAN Giả thuyết H2: Sự thay đổi công nghệ có tác động làm giảm tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở các quốc gia ASEAN Giả thuyết H3: Sự phát triển tài chính có tác động làm giảm tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở các quốc gia ASEAN 2.2 Bất bình đẳng thu nhập 2. Khái niệm 15 Bất bình đẳng thu nhập là một thuật ngữ rộng và có nhiều cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh mà nó được sử dụng. Tổ chức Hợp tác và Phát triển OECD (2019) định nghĩa về bất bình đẳng thu nhập là “sự khác biệt trong phân phối thu nhập giữa các cá nhân và/hoặc dân số” (OECD, 2019). Theo Milanovic trong nghiên cứu “Worlds Apart: Measuring International and Global Inequality” (2005), bất bình đẳng thu nhập là sự chênh lệch trong phân phối thu nhập giữa tất cả các cá nhân, nhóm, tầng lớp xã hội hoặc quốc gia.
Ngoài ra, bất bình đẳng thu nhập còn được định nghĩa là mức độ mà thu nhập được phân phối không đều trong các nhóm thu nhập khác nhau trong một nền kinh tế. Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở trên thế giới đang trở nên đáng lo ngại ở hầu hết các nước trong vòng ba thập kỷ qua (Jaumotte et al. Sự gia tăng về chênh lệch trong phân phối thu nhập, một khía cạnh quan trọng của bất bình đẳng kinh tế, đã tạo ra sự quan tâm và tranh luận về cách giải quyết. Bất bình đẳng thu nhập cao có thể ảnh hưởng bất lợi đến người nghèo và gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với xã hội.
Thước đo Đường cong Lorenz (Lorenz curve) là một trong những cách đơn giản nhất để biểu thị sự bất bình đẳng. Trên trục hoành là số lượng người nhận thu nhập tích luỹ từ người nghèo nhất đến người giàu nhất. Trên trục tung, biểu đồ hiển thị tỷ lệ tích luỹ của tổng thu nhập. Đường cong Lorenz cho thấy phần trăm thu nhập thuộc về x phần trăm dân số.
Đường cong này thường được so với đường 45 độ đại diện cho sự bình đẳng hoàn hảo, trong đó mỗi phần trăm x của dân số nhận được cùng phần trăm x của thu nhập. Do đó, đường cong Lorenz càng xa so với đường 45 độ thì sự phân phối thu nhập càng bất bình đẳng hơn.2: Minh họa đường cong Lorenz Dựa trên đường cong Lorenz, nhiều chỉ số giúp đánh giá tình trạng bất bình đẳng thu nhập đã được giới thiệu trong thực tế như Gini Index, Robin Hood Index (Hoover Index), Atkinson Index, Decile Ratio,. Atkinson Index là phương pháp đo lường bất bình đẳng dựa trên phương pháp phúc lợi phổ biến nhất. Chỉ số này cho biết phần trăm thu nhập mà một cộng đồng sẽ phải bỏ ra để đạt được sự phân chia thu nhập bình đẳng hơn giữa các công dân.
Chỉ số này phụ thuộc vào mức độ khắt khe của xã hội đối với sự bất bình đẳng, trong đó giá trị Atkinson Index cao hơn tượng trưng cho việc mỗi cá nhân sẽ được hưởng nhiều lợi ích từ xã hội hơn hoặc sự sẵn sàng của cá nhân chấp nhận thu nhập thấp hơn để đổi lấy phân chia thu nhập cân đối hơn. Tỷ lệ thập phân (Decile Ratio) là một cách đo lường bất bình đẳng về thu nhập. Phương pháp này dựa trên việc phân bổ thu nhập của dân số thành mười nhóm bằng nhau, mỗi nhóm đại diện cho 10% dân số. Tỷ lệ thập phân so sánh thu nhập của thập phân vị có 17 thu nhập cao nhất với thập phân vị có thu nhập thấp nhất cung cấp cái nhìn sâu sắc về khoảng cách thu nhập giữa phân khúc dân số trên và dưới.
Robin Hood Index (còn được gọi là Hoover Index) là chỉ số cho biết tỷ lệ thu nhập tổng cộng phải được phân phối lại để đạt được trạng thái bình đẳng hoàn hảo hay phần trăm tổng thu nhập của các hộ gia đình có thu nhập cao hơn trung bình phải được chuyển cho các hộ gia đình có thu nhập thấp hơn để đạt được sự cân đối trong phân phối thu nhập. Giá trị của chỉ số này cao hơn chỉ ra sự bất bình đẳng lớn hơn, đòi hỏi sự chuyển đổi thu nhập nhiều hơn để đạt được sự cân đối trong phân phối thu nhập. Robin Hood Index có thể được biểu đồ hóa dưới dạng khoảng cách dọc tối đa giữa đường Lorenz và đường 45 độ đại diện cho sự bình đẳng hoàn hảo của thu nhập.3: Minh họa Robin Hood Index theo mối quan hệ với đường cong Lorenz Gini Index là chỉ số dựa trên đường cong Lorenz và nằm trong khoảng từ 0 đến 100, với 0 biểu thị sự bình đẳng hoàn hảo (thu nhập giữa người với người là như nhau) và 100 biểu thị sự bất bình đẳng hoàn toàn (một người sở hữu toàn bộ thu nhập và những người còn lại không sở hữu bất kỳ thu nhập nào). Chỉ số Gini được tính bằng tỉ số diện tích giữa hai đường cong (đường cong Lorenz và đường 45 độ) đến vùng bên dưới đường 45 độ (Das, 18 2016).
Đường 45 độ còn được gọi là “Đường bình đẳng” biểu thị không có sự bất bình đẳng về thu nhập.4, tỷ số A/(A+B) biểu thị thước đo về bất bình đẳng thu nhập và được gọi là hệ số Gini, chỉ số Gini hoặc đơn giản là Gini.4: Minh họa Gini Index theo mối quan hệ với đường cong Lorenz và đường 45 độ Mỗi cách đo lưòng bất bình đẳng thu nhập đều có điểm mạnh và hạn chế riêng, tuy nhiên Gini Index là phương pháp phổ biến nhất trên thực tế và được coi là lựa chọn mặc định trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm nhờ ưu thế của nó và sự sẵn có của dữ liệu (Ferreira và cộng sự, 2015). Gini Index sử dụng thông tin về phân phối thu nhập của toàn bộ dân số trong một quốc gia nhưng độc lập với kích thước của nền kinh tế và dân số của quốc gia đó. Ví dụ như khi đo lường bằng bất bình đẳng bằng tỷ lệ thập phân (Decile Ratio), người ta có thể chỉ tập trung vào so sánh phân phối thu nhập của nhóm 10% những người có thu nhấp thấp nhất và nhóm 10% những người có thu nhập cao nhất trong khi đó Gini Index lại có thể thể hiện được rõ sự khác biệt trong phân phối thu nhập trong toàn bộ dân số. Vì vậy, trong nghiên cứu này, nhóm sử dụng Gini Index để đo lường bất bình đẳng thu nhập.
Nguồn số liệu được lấy từ World Income Inequality Database (WIID). FDI và tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập 19 2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 2.1 Khái niệm Quỹ tiền tệ Quốc tế - IMF (2009) đưa ra định nghĩa rằng: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình đầu tư được thực hiện nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho một doanh nghiệp hoạt động tại một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, qua đó có được tiếng nói trong quản lý doanh nghiệp”. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) định nghĩa rằng “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động khi một nhà đầu tư có trụ sở tại một quốc gia (quốc gia đầu tư) có được một tài sản ở một quốc gia khác (quốc gia nhận đầu tư) và có quyền quản lý tài sản đó”. Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình đầu tư xuyên biên giới trong đó nhà đầu tư cư trú tại một nền kinh tế này thiết lập mối quan tâm lâu dài và mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với một doanh nghiệp cư trú trong nền kinh tế khác.” Hội Liên hợp quốc tế về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) xác định: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được định nghĩa là một khoản đầu tư liên quan đến một mối quan hệ lâu dài và phản ánh sự quan tâm và kiểm soát của một thực thể tại nước đi đầu tư (doanh nghiệp đi đầu tư hoặc doanh nghiệp mẹ) đối với một doanh nghiệp cư trú tại một nền kinh tế khác.
Phân loại FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân chia dựa trên 5 căn cứ: căn cứ theo liên kết đầu tư, căn cứ theo cách thức xâm nhập, căn cứ vào tính pháp lý, căn cứ vào lĩnh vực đầu tư, căn cứ vào mục tiêu của chủ đầu tư. Căn cứ theo liên kết đầu tư: FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI) là hoạt động mở rộng quy mô sản xuất các hàng hóa giống hoặc tương tự ở nội địa tại thị trường nước ngoài (nước sở tại). FDI theo chiều dọc (Vertical FDI) là việc tận dụng nguồn tài nguyên giá rẻ ở nước sở tại hoặc giành quyền kiểm soát và khai thác nguyên vật liệu (backward vertical FDI) hoặc để thu hẹp khoảng cách với người tiêu dùng bằng cách mua lại các kênh phân phối (forward 20 vertical FDI) với mục đích phá vỡ các rào cản tiếp cận thị trường, đẩy mạnh phân phối và tiêu thụ các sản phẩm sản xuất trong nước ra nước ngoài. FDI hỗn hợp (Conglomerate FDI), bao gồm cả FDI theo chiều ngang và chiều dọc.
FDI hỗn hợp là hình thức mà nhà đầu tư và bên nhận đầu tư hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Đồng thời, các nhà đầu tư thực hiện hai chiến lược: quốc tế hóa và đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh để phân tán rủi ro và tiếp cận vào các ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Căn cứ theo cách thức thâm nhập: Đầu tư mới (Greenfield): là loại hình mà chủ đầu tư nước ngoài góp vốn để xây dựng cơ sở sản xuất, tiến hành các hoạt động kinh doanh tại quốc gia nhận đầu tư. Hình thức này thường được chào đón tại các quốc gia sở tại do nó kích thích cơ hội việc làm và làm tăng sản lượng đầu ra.
Mua lại và sáp nhập xuyên biên giới (M&A) là hình thức nhà đầu tư nước ngoài mua lại hoặc sáp nhập cơ sở kinh doanh sẵn có ở nước nhận đầu tư.