CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Các lý thuyết có liên quan đến tiểu luận 1. Lý thuyết về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người (GDP per capita) Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nhưng nhóm tác giả thống nhất sử dụng định nghĩa: “Tổng sản phẩm trong nước là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (quý, năm). Điều này có nghĩa trong GDP không tính các giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ đã sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm.
GDP biểu thị kết quả sản xuất do các đơn vị thường trú tạo ra trong lãnh thổ kinh tế của một quốc gia.” của Tổng cục thống kê Việt Nam làm quan điểm chủ đạo xuyên suốt bài nghiên cứu. Theo Cục thống kê Cà Mau, tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người (GDP bình quân đầu người) là một trong những chỉ tiêu thống kê kinh tế tổng hợp quan trọng phản ánh kết quả sản xuất tính bình quân đầu người trong một năm. Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người còn là chỉ tiêu được dùng để đánh giá mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, khu vực theo thời gian và so sánh quốc tế. Nếu GDP bình quân đầu người cao, tổng GDP tăng trưởng mạnh so với nước khác, chứng tỏ sự phát triển kinh tế của đất nước đó.
Để tính được chỉ số GDP bình quân đầu người, cần phải tính được tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP có nhiều phương pháp tính khác nhau như phương pháp sản xuất, phương pháp sử dụng cuối cùng và phương pháp thu nhập nhưng cuối cùng thì kết quả sẽ giống nhau. Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người 1 năm được tính bằng cách chia tổng sản phẩm trong nước trong năm cho dân số trung bình trong năm tương ứng. Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người có thể tính theo giá thực tế, tính theo nội tệ hoặc ngoại tệ (bằng USD theo tỷ giá hối đoái thực tế hoặc tỷ giá sức mua tương đương); cũng có thể tính theo giá so sánh để tính tốc độ tăng.
8 Công thức tính: GDP trong năm (tính bằng GDP bình quân đầu VND) = người (VND/người) Dân số trung bình trong cùng năm 1. Lý thuyết về Đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế được khẳng định trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển. Mô hình tăng trưởng tân cổ điển cho rằng tiến bộ công nghệ và lực lượng lao động là ngoại sinh, do đó FDI làm tăng mức thu nhập trong nước khi nó không có tác dụng dài hạn lên tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng dài hạn có thể có thông qua sự phát triển công nghệ và dân số; nếu FDI ảnh hưởng tích cực đến công nghệ thì nó tác động lên tăng trưởng kinh tế (Solow, 1956). Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, Nguyễn Hồng Thu và Lê Mã Long (2023) đã khẳng định FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết về Xuất khẩu Theo giáo trình Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu của tác giả Lê Ngọc Hải, hoạt động xuất khẩu hàng hóa là việc dựa trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán và lấy lợi nhuận làm mục tiêu, từ đó bán hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia cho một quốc gia khác. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc cả hai quốc gia.
Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. 9 Gylfason (1999) khẳng định xuất khẩu có thể được coi là động lực chính thúc đẩy kinh tế phát triển kể cả trực tiếp và gián tiếp vì một mặt chúng là một phần của sản xuất, mặt khác chúng thúc đẩy nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và vốn, do đó cũng du nhập những ý tưởng và tri thức mới. Lý thuyết về Tỷ lệ lạm phát Hiểu một cách đơn giản, lạm phát là một quá trình giá cả tăng liên tục, hoặc sự giảm giá liên tục giá trị đồng tiền (Laidler and Parkin, 1975, p. Trong những năm gần đây, các nhà kinh tế cho rằng lạm phát có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng.
Theo Bruno và Easterly (1995), Romer (2001), lạm phát làm giá cả tương đối giữa các hàng hóa dịch vụ thay đổi nhanh chóng, chi phí phân bổ nguồn lực của thị trường tốn kém, làm giảm hiệu quả của nền kinh tế. Điều này đồng nhất với quan điểm của Đinh Nguyễn Hà Uyên và Đinh Thế Hùng (2022) khi nghiên cứu ảnh hưởng của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết về Cơ sở hạ tầng Theo Prud'homme, R. (2004), cơ sở hạ tầng được trình bày như một tập con của khái niệm vốn, góp phần mở rộng quy mô, hiệu quả của thị trường lao động và thị trường hàng hóa, từ đó làm tăng năng suất và sản lượng.
Theo Ismail và Mahyideen (2015), cơ sở hạ tầng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo thuận lợi cho thương mại và những cải thiện bề cơ sở hạ tầng giao thông làm tăng dòng chảy thương mại. Cơ sở hạ tầng như số lượng đường dây điện thoại, điện thoại di động, truy cập băng thông rộng, sử dụng Internet có tác động thương mại tích cực cho các nhà xuất - nhập khẩu. Lý thuyết về Tỷ lệ thất nghiệp Theo Tổng cục thống kê, người thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kì tham chiếu có đầy đủ 03 yếu tố: hiện không làm việc, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Người thất nghiệp còn là những người hiện không có việc làm và sẵn sàng 10 làm việc nhưng trong thời kỳ tham chiếu không đi tìm việc do đã chắc chắn có một công việc hoặc một hoạt động sản xuất kinh doanh để bắt đầu sau thời kì tham chiếu.
Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động. Ở các nước đang phát triển, thất nghiệp là một vấn đề rất được quan tâm. Theo nghiên cứu của Maryam Zabihi (2011), tỉ lệ thất nghiệp có mối quan hệ ngược chiều với GDP thực tế bình quân đầu người. Các nghiên cứu có liên quan 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu và lỗ hổng nghiên cứu Từ lâu, các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, đại diện bởi GDP bình quân đầu người đã được các nhà kinh tế, nhà nghiên cứu khoa học cả trong và ngoài nước quan tâm và nghiên cứu nhưng vẫn tồn tại các quan điểm khác nhau, tùy từng thời điểm và từng khu vực. Trong quá trình tìm hiểu và lựa chọn đề tài, nhóm tác giả đã tham khảo một số nghiên cứu đi trước: Irsania, D. (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến FDI, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, và tỷ giá hối đoái đến tăng trưởng kinh tế của Indonesia từ 1983-2012. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có sự tác động đồng thời của các biến độc lập tới tăng trưởng kinh tế.
Tỷ lệ thất nghiệp không có tác động nhiều đến tăng trưởng kinh tế Indonesia nhưng đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỷ lệ lạm phát và tỷ giá hối đoái lại có ảnh hưởng đáng kể. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng mạnh hơn là FDI. (2023) sử dụng dữ liệu thứ cấp dạng chuỗi thời gian từ 2003-2018 để phân tích tác động của lạm phát, xuất khẩu, FDI và thất nghiệp tới tăng trưởng kinh tế Malaysia trong trường hợp có sự ảnh hưởng của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và kết luận rằng FDI là một trong những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Malaysia vì nó tạo ra cơ hội việc làm, có thể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở Malaysia theo đúng nghĩa đen. Ngoài ra, xuất khẩu, tỷ lệ thất nghiệp có tác động đáng kể đến GDP của Malaysia.
Tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất 11 nghiệp có tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp và lạm phát giảm thì GDP sẽ tăng. Phương pháp ADRL và ECM được sử dụng trong nghiên cứu của Tripathy, N. (2016) để kiểm tra tác động dài hạn và ngắn hạn giữa đầu tư vào cơ sở hạ tầng và tăng trưởng kinh tế Ấn Độ trong 41 năm từ 1971-2012. Qua đó, tác giả khẳng định cơ sở hạ tầng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng năng suất vốn và lao dộng, do đó làm giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng, lợi nhuận, việc làm và thu nhập và kiến nghị Ấn Độ chú trọng hơn vào phát triển cơ sở hạ tầng cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước.
Sử dụng lý thuyết của Keynes và dữ liệu chuỗi thời gian từ 1970-2009, Kira, A. (2013) đã nêu ra sự ảnh hưởng của 4 nhân tố: đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu ròng và nhập khẩu tới GDP của các nước đang phát triển, đại diện là Tanzania. Theo đó, GDP các nước chủ yếu bị ảnh hưởng bởi tiêu dùng và xuất khẩu, còn đầu tư và nhập khẩu có ảnh hưởng không đáng kể. Vì vậy, các nước đang phát triển phải tạo ra các dự án phát triển nhằm tạo môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư vào công nghiệp hóa.
Nghiên cứu của Chimobi, O. (2010) về ảnh hưởng của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế Nigeria từ 1970-2005 đã chỉ ra rằng lạm phát không có tác động dài hạn tới tăng trưởng kinh tế. Tác giả cũng chưa khẳng định lạm phát có tác động tích cực hay tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế Nigeria; chỉ có một sự chắc chắn rằng lạm phát thực sự có tác động đến tăng trưởng. K (2022) đã nghiên cứu tác động của đầu tư vào cơ sở hạ tầng đối với tăng trưởng kinh tế tại Đông Nam Bộ.
Tác giả sử dụng phương pháp ước lượng OLS, FEM, REM, FGLS với 8 biến độc lập: Lực lượng lao động, lạm phát, FDI, tổng chi tiêu công, độ mở kinh tế, tỷ lệ vốn đầu tư khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GDP, tổng thu NSNN, tỷ lệ đô thị hóa đại diện cho việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng.