MỞ ĐẦU Bài nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa các dòng vốn ngoại và tỷ giá thực đa phương ở Việt Nam, sử dụng phương pháp ước lượng mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) với các kiểm định đường bao được đề xuất trong nghiên cứu của Pesaran và các cộng sự (2001), cho thời kỳ ước lượng từ Q1/2000 – Q2/2015. Khác với phần lớn các nghiên cứu trước đây trên nhiều quốc gia trong đó chỉ xem xét tác động chung của tất cả các dòng vốn, bài nghiên cứu này chia các dòng vốn ra thành ba loại: dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), dòng vốn đầu tư danh mục (FPI), và các dòng vốn khác (OTHER). Cùng với việc đưa vào mô hình các biến kinh tế cơ bản với vai trò là biến kiểm soát, bài nghiên cứu thu được kết quả có một vài điểm khác biệt với đa số các nghiên cứu trên nhiều quốc gia gần đây. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy hai loại dòng vốn: FDI và FPI đều có tác động đáng kể làm tăng giá thực VND, trong khi tác động của các dòng vốn khác (OTHER) lên tỷ giá thực thì không có ý nghĩa thống kê.
Bài nghiên cứu cũng phát hiện ra FPI có tác động lên tỷ giá thực mạnh hơn và có ý nghĩa thống kê lớn hơn so với FDI và đồng thời đưa ra các lý luận để giải thích cho hiện tượng này. Kết quả của bài nghiên cứu ngụ ý rằng trong số các dòng vốn ngoại, FPI và FDI đều là nhân tố đáng kể làm tăng giá thực VND. 1 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU Các dòng vốn ngoại đổ bộ nhanh và mạnh mẽ ở các nước châu Á mới nổi sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã tạo thêm động lực mới cho các cuộc tranh luận về tác động của nó đối với nền kinh tế cũng như thảo luận về cách tối ưu nhất để có thể thu lợi từ dòng vốn vào và giảm thiểu các tác động tiêu cực của nó. Lợi ích của các dòng vốn ngoại đó là cho phép một quốc gia thâm hụt tài khoản vãng lai và nhờ đó có thể đạt được mức đầu tư cao hơn mà không phải hi sinh tiêu dùng, giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, các dòng vốn chảy vào nhiều có thể gây tác động tăng giá thực của nội tệ, làm giảm năng lực cạnh tranh của quốc gia, ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và sản xuất ngoại thương. Tác động bất lợi này có thể làm xói mòn tác động tích cực của các dòng vốn đối với tăng trưởng kinh tế. Tăng giá thực đồng tiền có thể xảy ra bất kể bản chất của chế độ tỷ giá hối đoái được áp dụng. Dưới một chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, tăng giá thực nội tệ xảy ra thông qua tăng giá trị danh nghĩa của nội tệ, trong khi dưới một chế độ tỷ giá hối đoái cố định, tăng giá thực đồng nội tệ xảy ra thông qua lạm phát.
Dưới một chế độ tỷ giá trung gian, tăng giá thực đồng tiền xảy ra thông qua sự kết hợp của hai quá trình này. Vấn đề tăng giá thực đồng tiền đi cùng với việc các dòng vốn đổ vào mạnh mẽ đã trở nên rõ ràng trong các nền kinh tế châu Á mới nổi, trong đó có Việt Nam. Từ năm 2000 đến 2015, tỷ giá thực đa phương của Việt Nam (REER) đã lên giá gần 80%, trong khi tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER) của Việt Nam mất giá khoảng 69% (Hình 1. Hiện tượng REER và NEER có chiều hướng tách xa nhau như trong Hình 1.1 là hệ quả của việc Việt Nam bị lạm phát cao so với các quốc gia đối tác thương mại chính và hậu quả là hàng Việt Nam giảm sức cạnh tranh so với hàng nước ngoài do đồng tiền tăng giá thực.
Quan sát thấy từ sau năm 2004, khi mà REER bắt đầu có xu hướng tăng giá mạnh mẽ và tách xa NEER, dòng vốn đổ vào Việt Nam cũng bắt đầu gia tăng mạnh mẽ. Trong khoảng từ 2005 đến 2009, trung bình dòng vốn đổ vào tăng gấp 5 lần. Tuy 2 nhiên, kể từ sau năm 2009, các dòng vốn hạ nhiệt và có xu hướng giảm dần cho tới nay, trong khi đó REER chỉ giảm giá nhẹ trong những năm 2009 đến đầu năm 2011, sau đó từ quý 2/2011 REER lại tăng giá trở lại cho đến nay. Những vấn đề này dẫn đến câu hỏi thực nghiệm liên quan đến các mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các dòng vốn ở Việt Nam, đặc biệt là mức độ và tốc độ phản ứng của tỷ giá thực trước các dòng vốn.
Trong khi có bằng chứng mạnh mẽ để tin rằng các loại dòng vốn khác nhau có bước đi khác nhau, một câu hỏi đáng được xem xét là liệu các thành phần khác nhau của dòng vốn có ảnh hưởng đến tỷ giá thực hay không? Trong khi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì ổn định hơn và chiếm tỷ phần chủ yếu trong các dòng vốn đổ vào Việt Nam, liệu tác động của FDI đối với tỷ giá hối đoái thực của Việt Nam có khác với dòng vốn đầu tư danh mục và các dòng vốn khác? Bài nghiên cứu này sẽ trả lời câu hỏi này bằng cách sử dụng một mô hình xác định tỷ giá thực của Việt Nam. Để nắm bắt được những tác động khác nhau có thể phát sinh từ các loại dòng vốn khác nhau, trong nghiên cứu này, các dòng vốn được chia thành dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), dòng vốn đầu tư danh mục (FPI) và các dòng vốn đầu tư khác (các khoản vay và tiền gửi ngân hàng, tín dụng thương mại). Bài nghiên cứu sẽ tiến hành ước lượng phương trình tỷ giá thực đa phương của Việt Nam, được xây dựng dựa trên mô hình xác định tỷ giá thực cân bằng dài hạn được phân tích trong các nghiên cứu trước đây của Montiel (1999), Baffes và các cộng sự (1999), Jongwanich (2010). Kỹ thuật ước lượng được áp dụng trong bài là phương pháp tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) được đề xuất trong nghiên cứu của Pesaran và các cộng sự (2001), sử dụng dữ liệu theo quý của Việt Nam, thời kỳ phân tích từ quý I năm 2000 đến quý II năm 2015.
Mô hình ước lượng kiểm soát sự ảnh hưởng của các biến kinh tế cơ bản bao gồm: chênh lệch năng lực sản xuất tương đối trong khu vực ngoại thương (được đại diện bằng tỷ số GDP thực bình quân đầu người của Việt Nam so với các đối -13 2 7 -8 -3 12 17 22 27 32 .00 Q3 2000 Q1 2001 Q3 2000 Q3 2001 Q1 2001 Q1 2002 Q3 2001 Q1 2002 Q3 2002 Q3 2002 Q1 2003 Q1 2003 Q3 2003 Q3 2003 Q1 2004 Q1 2004 Q3 2004 Q3 2004 Q1 2005 Q1 2005 Q3 2005 Q3 2005 Q1 2006 Q1 2006 Q3 2006 Q3 2006 REER Q1 2007 3 Q1 2007 Q3 2007 Q3 2007 Q1 2008 Q1 2008 Q3 2008 Q3 2008 Q1 2009 Q1 2009 Q3 2009 Q3 2009 NEER Q1 2010 của nền kinh tế và điều khoản thương mại của Việt Nam.1: REER và NEER của Việt Nam thời kỳ 2000-2015 Q1 2014 Q3 2014 Q3 2014 Q1 2015 Q1 2015 Hình 1.2: Các dòng vốn vào ròng của Việt Nam (%GDP) thời kỳ 2000 - 2015 Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên dữ liệu của IMF. Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên dữ liệu của IMF. tác thương mại chính), tỷ phần tiêu dùng của chính phủ trong GDP, mức độ mở cửa 4 Phần còn lại của bài nghiên cứu được bố cục như sau. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết bao gồm tổng quan các nghiên cứu trước đây và mô hình các yếu tố xác định tỷ giá thực có bao gồm biến các dòng vốn.
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài, bao gồm kỹ thuật ước lượng và dữ liệu thu thập. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu và cuối cùng, chương 5 tóm tắt kết quả và kết luận những phát hiện chính. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây Các dòng vốn ngoại cũng như các nhân tố kinh tế vĩ mô khác chỉ có tác động đến tỷ giá thực trong bối cảnh ngang giá sức mua không tồn tại.
Do đó, trước hết phần này sẽ xem xét các nghiên cứu liên quan đến tranh luận về sự tồn tại của ngang giá sức mua trong thực tế. Kế tiếp, chúng ta sẽ đi xem xét các nghiên cứu về mô hình xác định tỷ giá thực có bao gồm biến các dòng vốn ngoại. Các nghiên cứu về sự tồn tại của ngang giá sức mua Tỷ giá thực cân bằng RER ban đầu được xác định dựa trên thuyết ngang giá sức mua (PPP). Theo lý thuyết PPP, sự thay đổi của tỷ giá giữa đồng tiền của hai quốc gia trong một thời kỳ được phụ thuộc vào mức giá cả tương đối giữa hai quốc gia đó.
Khi giá cả của mỗi loại hàng hóa tính theo một đồng tiền chung được cân bằng giữa hai quốc gia và các hàng hóa giống nhau có cùng tỷ trọng bằng nhau ở hai quốc gia, tỷ giá thực cân bằng có thể được xác định như sau: Trong đó RER* là tỷ giá thực cân bằng, e là tỷ giá danh nghĩa (theo đơn vị tiền tệ nước ngoài), P* là giá cả nước ngoài, và P là giá cả trong nước. Phương trình (3.1) là phương trình ngang giá sức mua tuyệt đối, trong đó dựa trên giả định của quy luật một giá. Quy luật một giá cho rằng các thị trường luôn cạnh tranh đồng nhất. Tuy nhiên trên thực tế giá cả hiện hành của hàng hóa ở quốc gia này không nhất định phải bằng với giá ở một quốc gia khác tại một thời điểm bởi khó có khả năng di chuyển tức thì hàng hóa từ nơi này đến nơi khác.
Bên cạnh đó, rổ hàng hóa giữa các quốc gia cũng có xu hướng khác nhau, và giá cả của rổ hàng hóa của các quốc gia cũng không được đo lường theo giá tuyệt đối. Từ đó, thuyết PPP tương đối được hình thành 6 để tính đến những khả năng này. Theo PPP tương đối, tỷ giá thực cân bằng được xác định như sau: Trong đó là hằng số phản ánh các trở ngại trong giao dịch hàng hóa và sự khác biệt giữa rổ hàng hóa giữa hai quốc gia. Cả thuyết PPP tuyệt đối và tương đối đều cho rằng tỷ giá thực cân bằng RER là hằng số cố định theo thời gian.
Tuy nhiên, rất nhiều nghiên cứu học thuật đã đưa ra nghi vấn về tính thực tiễn của lý thuyết này khi có rất ít bằng chứng ủng hộ thuyết PPP.