Chương 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG, QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1.1 VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Bản chất của vốn đầu tư nước ngoài 1. Khái niệm Nguồn vốn đầu tư nước ngoài là các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới, xét phạm vi rộng hơn đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế (international capital flows). Bản chất của vốn đầu tư nước ngoài Xét về bản chất, nguồn hình thành nên vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế của một nước có thể huy động được để thực hiện đầu tư vào quá trình mở rộng sản xuất của chính nền kinh tế đó.
Nhà kinh tế học John Maynard Keynes, viết trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã chứng minh quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư như sau: Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng. Nghĩa là đối với khu vực sản xuất thu nhập của khu vực này chính bằng tổng mức tiêu dùng và đầu tư của họ trong nền kinh tế. Còn đối với khu vực tiêu dùng, phần tiết kiệm của họ chính là khoản chênh lệch giữa thu nhập và tiêu dùng.
Như vậy, ta thấy trong nền kinh tế thì đầu tư của khu vực sản xuất chính là khoản tiết kiệm trong khu vực tiêu dùng. Theo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư xuất phát từ tính chất song phương giữa một bên là nhà sản xuất và bên kia là người tiêu dùng. Thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí. Nhưng (1) : Trích trang 56 phần “Nguồn vốn đầu tư nước ngoài” trong sách “Giáo trình kinh tế đầu tư” – NXB Thống kê – Hà Nội – 2003 -2- toàn bộ sản phẩm sản xuất ra phải được bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác.
Mặt khác, đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ. Vì vậy, xét về tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng mà người ta gọi là tiết kiệm không thể khác với phần gia tăng năng lực sản xuất mà người ta gọi là đầu tư. Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng. Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân và tiết kiệm của Chính phủ.
Điểm cần lưu ý là tiết kiệm và đầu tư xem xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế không nhất thiết được tiến hành bởi một cá nhân hay một doanh nghiệp nào. Có thể có cá nhân, doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có tích lũy nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư. Trong khi đó, có một số cá nhân, doanh nghiệp lại thực hiện đầu tư khi chưa hoặc tích lũy chưa đầy đủ. Khi đó, thị trường vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết khoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang cho người có nhu cầu sử dụng.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải bao giờ cũng được thiết lập. Phần tích lũy của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang nước khác để thực hiện đầu tư. Ngược lại, vốn tích lũy của nền kinh tế có thể ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài. Trong trường hợp này, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai.
Để thấy mối quan hệ này, chúng ta xét đồng nhất thức hạch toán thu nhập quốc dân dưới dạng đầu tư và tiết kiệm như sau: Ta có đồng nhất thức: Y = C + I + G + NX Trong đó : NX : cán cân thương mại Y : tổng sản phẩm trong nước C : tổng chi tiêu cho tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ I : tổng đầu tư G : tổng chi tiêu của Chính phủ S : tiết kiệm quốc dân Trừ C và G ở cả hai vế ta có : Y – C – G = I + NX -3- Mà ta có tiết kiệm quốc dân : S=Y–C–G Vậy chúng ta có thể viết lại đồng nhất thức tài khoản quốc gia như sau: S – I = NX Vế thứ nhất: (S – I) được gọi là đầu tư nước ngoài ròng, đây chính là phần dôi ra của tiết kiệm trong nước so với đầu tư trong nước; nó bằng số tiền người dân trong nước cho người nước ngoài vay, trừ đi số tiền người nước ngoài cho chúng ta vay. Vế thứ hai của đồng nhất thức NX được gọi là cán cân thương mại hay xuất khẩu ròng về hàng hóa, dịch vụ. Đồng nhất thức này nói rằng đầu tư nước ngoài ròng luôn bằng cán cân thương mại. Như vậy, trong nền kinh tế mở nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích lũy của nội bộ nền kinh tế và cán cân thương mại bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nước ngoài.
Khi đó, nguồn vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn đóng một vai trò quan trọng cho đầu tư và phát triển nền kinh tế của một quốc gia và góp phần tăng nhanh tiến trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Vậy, vốn đầu tư nước ngoài chính là phần tiết kiệm dôi ra không sử dụng của nước đi đầu tư đầu tư vào nền kinh tế của nước nhận đầu tư. Đây chính là bản chất của nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, hiện nay các dòng vốn chuyển từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển đang được lưu tâm nhiều nhất, nó đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển mạnh mẽ công cuộc toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới.
Các loại vốn đầu tư nước ngoài Trong công tác quản lý và sử dụng vốn đầu tư các nhà kinh tế đã phân loại vốn đầu tư theo các tiêu thức khác nhau, mỗi tiêu thức đáp ứng một nhu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế khác nhau. Nếu xét căn cứ mức độ tham gia quản lý quá trình thực hiện đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài, ta có thể phân loại vốn đầu tư nước ngoài thành hai nguồn chính: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây là nguồn vốn mà thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment), nó được chuyển vào nền kinh tế của nước nhận đầu tư nhằm giúp công dân của một nước (nước đầu tư) nắm giữ quyền kiểm soát hoạt động kinh tế ở một nước khác (nước chủ nhà hay nước nhận đầu tư). Đây đơn thuần chỉ là một sự di chuyển tư bản từ quốc gia này sang quốc gia khác và chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức đầu tư của nhà tư bản tư nhân.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả. (2) Nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận đầu tư. Về hiệu quả sử dụng vốn FDI tùy thuộc vào cách thức huy động và quản lý sử dụng nó tại nước tiếp nhận đầu tư chứ không chỉ ở ý đồ của người đầu tư.
v Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Theo Luật Đầu tư số 59 của Quốc hội (59/2005/QH11) ngày 29/11/2005 có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 về hoạt động đầu tư, hiện nay Việt Nam về cơ bản có các hình thức đầu tư trực tiếp như sau: - Hình thức 100% vốn từ nước ngoài Là hình thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Thường thiết lập trong khu chế xuất; hoặc các công ty, xí nghiệp ở khu công nghệ cao. Thời hạn hoạt động thường kéo dài (có khi từ 50 đến 70 năm). Doanh nghiệp 100% vốn (2) : Trích trang 60 phần “Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)” trong sách “Giáo trình kinh tế đầu tư” – NXB Thống kê – Hà Nội – 2003.
-5- nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo luật pháp nước chủ nhà. - Hình thức liên doanh Được thành lập giữa một bên là một hay nhiều pháp nhân của nước nhận đầu tư và một bên là một hay nhiều thành viên nước ngoài (vốn hoạt động của công ty là do các bên đóng góp). Hoạt động tự chủ về tài chính theo quy định của pháp luật Việt Nam; lợi nhuận và rủi ro được phân chia theo tỷ lệ góp vốn. Đây là hình thức thường được các chủ đầu tư nước ngoài khi mới thâm nhập thị trường nước nhận đầu tư sử dụng, nhằm chiếm lĩnh thị trường một cách nhanh nhất, với chi phí xây dựng thấp nhất và đơn giản nhất.
Sau một thời gian đi vào hoạt động sẽ chuyển dần sang hình thức đầu tư khác. - Thực hiện hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT) Là hình thức hợp đồng được ký kết giữa chủ đầu tư (nhà thầu) và các cơ quan Nhà nước (của nước sở tại) có thẩm quyền, để xây dựng một công trình, trong đó nhà thầu bỏ vốn để kinh doanh trong một thời gian nhất định - đủ để thu hồi vốn và có lợi nhuận thỏa đáng; sau đó chuyển giao công trình cho nước chủ nhà mà không đòi hỏi bất cứ một khoảng tiền nào.(3) Hình thức BOT tạo ra loại hình công việc có chất lượng cao ở các nước chậm và đang phát triển khi các nước này không có đủ vốn để đảm bảo điều kiện trên, vì công nghệ và kỹ năng được chuyển giao từ các doanh nghiệp của các chủ tư bản tư nhân nước phát triển sang các nước chậm và đang phát triển.