Chương 1 TỎNG QUAN 1. Các nghiên cứu liên quan 1. Các nghiên cứu nước ngoài Cao và cộng sự (2010) đã nghiên cứu tác động của các chính sách khu vực và quốc gia của Trung Quốc liên quan đến Chương trình bảo tồn rừng tự nhiên (NFCP) đối với tình trạng nghèo đói ở các vùng đất khô hạn phía bắc tỉnh Thiém Tây. Qua kết quả thong kê mô tả, nghiên cứu cho thay có 34,9%; 47,0% và 59,8% người nông dân, người chăn thả gia súc và công nhân lâm nghiệp khẳng định rằng sinh kế của họ đã bị ảnh hưởng bắt lợi bởi Chương trình bảo tồn rừng tự nhiên do lệnh cấm khai thác gỗ và chăn thả gia súc do chương trình này áp đặt.
Thiệt hại này là tăng dâng trong tương lai nếu không được đền bù thỏa đáng cho những thiệt hại kinh tế của họ theo chương trình. Mặc dù người dân Trung Quốc đã trở nên ủng hộ hơn đối với các nỗ lực bảo tồn môi trường, nhưng những người dân nghéo nhất vẫn cần sự giúp đỡ đáng kê dé họ có thé tham gia vào cả phát triển kinh tế và phục hồi môi trường. Moti Jaleta và cộng sự (2011) trong nghiên cứu Tác động của tái định cư đến sinh kế, an ninh lương thực và sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở Etiopia đã đánh giá các tác động của tái định cư đến sinh kế, an ninh lương thực và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên. Việc tái định cư vào giữa những năm 1980 nhằm giảm bớt áp lực về dân số đồng thời nhằm đưa người dân ra khỏi rừng, đồn điền trên sườn đồi.
Trên thực tế, việc tái định cư có rất ít tác động đến việc giảm bớt áp lực về tái tạo tài nguyên thiên nhiên nhưng thay vào đó lại dẫn đến xung đột với cư dân địa phương trong các khu tái định cư. Nghiên cứu đặt ra vấn đề là việc tái định cư đang dẫn đến tình trạng đòi hỏi sự chia sẻ tài nguyên giữa người định cư va cộng đông tiêp nhận, nên đã gây ra một số chi phí xã hội, dẫn đến tô chức và thê chế trong quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như thé chế xã hội và chiến lược sinh kế. Nghiên cứu của Islam và cộng sự (2013) đã phân tích thực trạng và mức độ tham gia của người dân vào các dự án lâm nghiệp ở tỉnh Madhupur, Bangladesh, đồng thời đánh giá tác động của dự án đối với sinh kế của những người tham gia thông qua dữ liệu khảo sát. Nghiên cứu sử dụng mô hình sinh kế bền vững (DFID, 2001) và sử dụng phương pháp phân tích phương pháp thống kê mô tả.
Kết quả cho thấy rằng tài sản tự nhiên, các mối quan hệ xã hội và việc sử dụng nguồn nhân lực thông qua các chiến lược sinh kế thay thế đã mang lại sự an toàn và cải thiện tài sản sinh kế của những người tham gia. Tat cả những người tham gia được bổ nhiệm làm công nhân lâm nghiệp cộng đồng được trả lương, nhận được các ưu đãi và thiết lập mối quan hệ tốt với Cục lâm nghiệp Bangladesh. Cơ quan này đã loại bỏ các hành vi vi phạm rừng của người tham gia và huy động sự tham gia của người dân. Nghiên cứu của Aggarwal vaf Brockington (2020) đã phân tích tác động sinh kế giữa các nhóm nông dân nhỏ, vừa và lớn tham gia vào một dự án carbon rừng từ bang Haryana ở Ấn Độ.
Dữ liệu từ 107 hộ gia đình đã được phân tích dé nghiên cứu các tác động về lợi ích cây trồng, thức ăn gia súc và gỗ nhiên liệu bi mat. Phân tích cho thấy rằng dự án đã ảnh hưởng xấu đến sinh kế của cả ba nhóm nông dân. Tuy nhiên, những nông dân nhỏ là ảnh hưởng nhiều nhất do thu nhập thấp, tài sản ít và khả năng chịu rủi ro cao. Các dự án carbon rừng bên cạnh các lợi ích bảo ton và giảm thiểu biến đổi khí hậu, được kỳ vọng sẽ cải thiện sinh kế địa phương và góp phần xóa đói giảm nghèo ở các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, tác động sinh kế của các dự án này ở các địa phương khác nhau là không đồng nhất. Valenzuela và cộng sự (2020) đã khảo sát sự tham gia của người dân địa phương trong các dự án khôi phục rừng ngập mặn và tác động đối với vốn xã hội và sinh kế ở Philippines. Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Quezon, Philippines, sử dụng phỏng van trực tiếp làm phương pháp chính dé thu thập dữ liệu. Các phân tích hồi quy đã được thực hiện dé đánh giá tác động của sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các dự án phục hôi rừng ngập mặn đôi với vôn xã hội và lợi ích tiêm năng của nó đối với người dân về khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ, là những thành phần chính của sinh kế.
Kết quả cho thấy sự tham gia của người dân vào các dự án phục hồi rừng ngập mặn góp phan tăng vốn xã hội, do đó cải thiện khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ của họ. Sự tham gia của người dân địa phương mang lại lợi ích cho cộng đồng vì nó có thê cải thiện sinh kế của họ. Các nghiên cứu trong nước Bảo Huy và cộng sự (2005) dựa trên khung sinh kế để nghiên cứu về lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn Việt Nam ở tỉnh Đăk Nông. Nghiên cứu đánh giá và phân tích dựa trên khung sinh kế cho thấy rừng đóng vai trò quan trọng trong sinh kế người nghèo vùng cao.
Mức độ phụ thuộc sinh kế của người dân vào việc khai thác các lâm sản từ rừng có chiều hướng giảm mạnh, nhưng những hộ nghèo vẫn còn sống phụ thuộc rất nhiều vào rừng. Người dân đã từng bước tìm kiếm được các hoạt động sinh kế thay thé dé giảm mức độ sử dụng tài nguyên rừng. Trong đó, phát triển sản xuất nông nghiệp đóng vai trò then chốt trong việc ôn định cuộc sống. Mục tiêu cải thiện sinh kế là đưa lâm nghiệp gắn với xóa đói giảm nghèo.
Như vậy, đối với Tây Nguyên, dé tạo ra sinh kế bền vững cho cộng đồng thông qua quản lý tai nguyên cần phải giúp cộng đồng tiếp cận và hưởng lợi một cách bình đẳng đối với tài nguyên rừng và đất; nâng cao năng lực quản lý, tổ chức và ra quyết định của cộng đồng trong sản xuất, kinh doanh từ trồng, chăm sóc rừng cho đến thu hái và chế biến; giúp người dân tiếp cận vốn, tín dụng, tô chức quản lý nguồn vốn trong hộ cũng như cộng đồng dé nâng cao hiệu quả đầu tư cho Lâm nghiệp và sinh kế của vùng Tây Nguyên. Mai Văn Xuân và cộng sự (2009) đã sử dụng công cụ Khung sinh kế bền vững dé đánh giá, phân tích tác động của Khu kinh tế thương mai đặc biệt Lao Bao (SICA), được thành lập năm 1998, đến thay đổi sinh kế và phúc lợi người dân; dé từ đó dé xuất một số giải pháp nhằm cải thiện sinh kế người dân. Thông qua phân tích số liệu bằng phương pháp so sánh, phân tích nhân tố và phân tích phương sai (ANOVA). Kết quả đã chỉ ra rằng SICA đã có tác động tích cực đến sinh kế người dân trong vùng, trực tiếp và gián tiếp tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương, góp phần đa dang hóa các hoạt động tạo thu nhập, thúc đây nhu cau học tập của người dân, góp phan xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cư dân trong vùng.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra được tác động tiêu cực đến hoạt động sinh kế của người dân trong vùng như: môi trường bị ô nhiễm, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, có sự phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng đặc biệt là giữa những người Kinh và người dân tộc thiêu số Vân Kiều. Bằng cách tiếp cận khung sinh kế, nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện sinh kế của người dân tốt hơn. Phạm Hải Bửu, Võ Thanh Dũng và Cao Quốc Nam (2010) đã sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững dé tìm ra các giải pháp cải thiện sinh kế của nông hộ trên lâm phần vùng ven biển Cà Mau. Kết quả cho thấy nguồn vốn tự nhiên là nguồn vốn có vai trò quyết định đến việc lựa chọn chiến lược sinh kế của hai nhóm hộ.
Đối với nhóm hộ không đất, do không có đất sản xuất nên nguồn lao động là yếu tố quyết định đến việc lựa chọn sinh kế của họ. Tổng thu nhập bình quân của nhóm hộ có đất sản xuất là 56,44 triệu đồng/hộ/năm và nhóm hộ không đất là 32,76 triệu đồng/hộ/năm. Bên cạnh đó, đời sống tỉnh thần của 2 nhóm hộ cũng được cải thiện. Tuy nhiên, trong quá trình theo đuôi chiến lược sinh kế, hai nhóm hộ này cũng gặp không ít những khó khăn và cần có giải pháp khắc phục để cải thiện sinh kế cho những hộ đang sống trên lâm phần, góp phần bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng ngập mặn.
Nguyễn Đăng Hào (2010) dựa trên tiếp cận sinh kế và sử dụng đồng thời cả phương pháp đánh giá sinh kế có sự tham gia và phỏng vấn hộ, nghiên cứu này tập trung đánh giá tiến trình chiến lược sinh kế và thu nhập của các hộ ở vùng Cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chiến lược sinh kế hết sức đa dạng và có sự khác biệt lớn giữa các điểm nghiên cứu và giữa các nhóm hộ. Nghiên cứu này cho thấy rằng trong lĩnh vực phát triển nông thôn các chương trình hỗ trợ nông nghiệp trong thời gian gần đây có tác động lớn trong việc tăng thu nhập của nông hộ, tuy vậy các chương trình nông nghiệp chung đó không đáp ứng nhu cầu phát triển của tất cả địa phương, các nhóm hộ bởi vì có sự khác biệt lớn về tài sản sinh kê, đặc biệt là nguôn nhân luc, dat dai, tài chính và von xã hội. Nguyễn Văn Toàn và các cộng sự (2012) đã sử dụng Khung sinh kế bền vững dé phân tích tác động của chương trình 135 đến sinh kế của đồng bao dân tộc thiểu số và các yếu tô ảnh hưởng đến sự tác động của chương trình 135.
Kết quả cho thay sinh kế của người dân đã có những thay đổi đáng ké từ cấp độ cộng đồng đến cấp độ hộ gia đình trong khoảng thời gian 2000 — 2010. Trong đó, nguồn vốn vật chất và nguồn vốn nhân lực có sự thay đổi nhanh nhất. Ở nguồn vốn nhân lực thì dân số bình quân hộ có xu hướng giảm, trong khi đó số lao động bình quân hộ hầu như không đổi và có xu hướng tăng.