Chương 1: Giới thiệu luận văn. Chương 2: Tổng quan về tác động của đòn bẩy đến quản lý thu nhập của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY ĐẾN QUẢN LÝ THU NHẬP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN 2. Tổng quan lý thuyết 2. Đòn bẩy đến quản lý thu nhập của doanh nghiệp Quản lý thu nhập của doanh nghiệp là sử dụng hệ thống đòn bẩy để gia tăng lợi nhuận.
Các đòn bẩy mà các nhà quản trị tài chính thường sử dụng là đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính. Đòn bẩy kinh doanh (OL – Operating Leverage) Đòn bẩy kinh doanh là việc sử dụng các tài sản có chi phí cố định kinh doanh nhằm hy vọng gia tăng lợi nhuận trước lãi vay và thuế hay tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản. Nói cách khác, đòn bẩy kinh doanh thể hiện mức độ sử dụng chi phí cố định kinh doanh của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm hy vọng gia tăng lợi nhuận trước lãi vay và thuế (hay tỷ suất lợi nhuận kinh tế của tài sản). Mức độ sử dụng đòn bẩy kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện ở tỷ trọng chi phí cố định kinh doanh trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có tỷ trọng chi phí cố định kinh doanh ở mức cao thể hiện doanh nghiệp có đòn bẩy kinh doanh lớn và ngược lại. Một doanh nghiệp có đòn bẩy kinh doanh cao thì chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của doanh thu (hoặc sản lượng hàng hoá tiêu thụ), có thể dẫn đến sự thay đổi lớn hơn về lợi nhuận trước lãi vay và thuế của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là lợi nhuận trước lãi vay và thuế của doanh nghiệp rất nhạy cảm với mức độ sử dụng chi phí cố định kinh doanh trong mối quan hệ với chi phí biến đổi và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, sử dụng đòn bẩy kinh doanh như sử dụng con dao hai lưỡi.
Doanh nghiệp có đòn bẩy kinh doanh lớn có khả năng gia tăng nhanh lợi nhuận trước lãi vay và thuế, nhưng cũng ẩn chứa rủi ro kinh doanh lớn. Đòn bẩy tài chính (FL – Financial Leverage) Đòn bẩy tài chính là mức độ sử dụng vốn vay trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay thu nhập trên một cổ phần thường (EPS). Đòn bẩy tài chính chính là sự kết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong công việc điều hành chính sách tài chính của doanh nghiệp. Đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu.
Ngược lại, đòn bẩy tài chính sẽ thấp khi tỷ trọng nợ phải trả nhỏ hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu. Thu nhập của doanh nghiệp 2. Khái niệm kế toán dồn tích (Accrual basis) Kế toán dồn tích là nguyên tắc kế toán theo đó thu nhập và chi phí được kế toán ghi nhận khi chúng phát sinh và đủ điều kiện ghi nhận là thu nhập và chi phí mà không nhất thiết phải gắn với dòng tiền thu hoặc chi. Khái niệm thu nhập dồn tích (Accrued Income) Cả cá nhân và công ty đều có thể nhận được thu nhập dồn tích.
Mặc dù nó chưa có trong tay, thu nhập dồn tích được ghi lại trên sổ sách khi kiếm được, theo phương pháp kế toán dồn tích .Nó là phương pháp thay thế cho phương pháp kế toán tiền mặt và cần thiết cho các công ty bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng bằng tín dụng. Theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung của Hoa Kỳ, kế toán dồn tích dựa trên nguyên tắc ghi nhận doanh thu tìm cách khớp doanh thu với khoảng thời gian họ kiếm được, thay vì thời gian nhận tiền mặt. Nói cách khác, chỉ vì tiền chưa được nhận không có nghĩa là doanh thu chưa kiếm được. 8 Mặt khác, một bên là hưởng thu nhập dồn tích, thì bên kia sẽ phải chi trả một khoản tương ứng được xác định trước.
Biết được kế hoạch phải chi trả, các công ty sẽ chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn của mình. Khái niệm về quản lý thu nhập 2. Khái niệm Quản lý thu nhập trong tiếng Anh là Earning management. Quản lý thu nhập là việc sử dụng những kỹ thuật kế toán để tạo báo cáo tài chính thể hiện một cái nhìn tích cực về hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của công ty.
Nhiều quy tắc và nguyên tắc kế toán yêu cầu các nhà quản lý của một công ty đưa ra những đánh giá theo các nguyên tắc này. Sử dụng công cụ quản lý thu nhập Quản lý thu nhập tận dụng các quy tắc kế toán và tạo báo cáo tài chính để phóng đại hoặc "làm đẹp" lợi nhuận. Lợi nhuận ở đây đề cập đến thu nhập ròng hoặc lợi nhuận của một công ty trong một thời gian nhất định, chẳng hạn như quí tài chính hoặc năm tài chính. Các công ty sử dụng quản trị lợi nhuận để giảm bớt sự biến động trong lợi nhuận và đưa ra lợi nhuận phù hợp hơn trong mỗi tháng, quí hoặc năm.
Các loại quản lý thu nhập - Một loại quản lý thu nhập là khi một công ty áp dụng một thủ tục kế toán để có vẻ như công ty đang tạo ra thu nhập cao hơn trong một khoảng thời gian ngắn hạn. Công ty đã sử dụng các khoản nắm giữ giả mạo và các nguyên tắc kế toán ngoài sổ sách để thao túng bảng cân đối kế toán của mình. Mục đích của việc này là để che giấu các khoản nợ phải trả của công ty và làm tăng thu nhập. - Một hình thức quản lý thu nhập khác liên quan đến cách một công ty tận dụng chi phí của mình.
Thay vì ghi nhận ngay chi phí là chi phí trên bảng cân đối kế toán của mình, một công ty sẽ vốn hóa chi phí thành tài sản trong một thời gian dài hơn. Bằng cách trì hoãn việc ghi nhận chi phí, công ty có thể làm tăng lợi nhuận của mình, ít nhất là trong ngắn hạn. Phát hiện quản lý thu nhập Thao túng báo cáo tài chính có nhiều hình thức. Các nhà đầu tư biết tìm kiếm điều gì đôi khi có thể phát hiện ra việc quản lý thu nhập bằng cách thực hiện phân tích báo cáo tài chính của các báo cáo hàng quý và hàng năm của một công ty.
Dưới đây là một số dấu hiệu một công ty có thể đang sử dụng các kỹ thuật quản lý thu nhập để làm sai lệch số liệu báo cáo tài chính của mình: - Yêu cầu tăng trưởng doanh thu không đi kèm với tăng trưởng dòng tiền tương ứng. - Báo cáo thu nhập tăng chỉ xảy ra trong quý cuối cùng của năm tài chính. - Mở rộng tài sản cố định vượt quá mức được coi là bình thường đối với công ty và / hoặc ngành. - Phóng đại giá trị ròng của một tài sản bằng cách bỏ qua việc sử dụng lịch khấu hao chính xác.
Ví dụ về quản lý thu nhập Một phương pháp thao túng trong khi quản lý thu nhập là thay đổi chính sách kế toán, tạo lợi nhuận cao hơn trong ngắn hạn. Ví dụ: giả sử một nhà bán lẻ đồ nội thất sử dụng phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO) để tính chi phí cho các mặt hàng tồn kho được bán. Theo LIFO, các mặt hàng nào mới nhập về sẽ là những hàng hóa đầu tiên được xuất đi. Vì chi phí hàng tồn kho thường tăng theo thời gian, các mặt hàng mới hơn đắt hơn và điều này tạo ra chi phí bán hàng cao hơn và lợi nhuận thấp hơn.
Nếu nhà bán lẻ chuyển sang phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO) để nhận biết chi phí hàng tồn kho, công ty sẽ xem xét các mặt hàng cũ hơn, rẻ hơn để bán trước. FIFO tạo ra giá vốn hàng bán thấp hơn chi phí và do đó, lợi nhuận cao hơn để công ty có thể công bố thu nhập ròng cao hơn trong giai đoạn hiện tại. Một hình thức quản lý thu nhập khác là thay đổi chính sách của công ty để có nhiều chi phí được vốn hóa hơn là chi phí tức thì. Vốn hóa chi phí khi tài sản trì hoãn việc ghi nhận chi phí và tăng lợi nhuận trong ngắn hạn.
1 Giả sử, ví dụ, chính sách của công ty quy định rằng mọi mặt hàng được mua dưới 5.000 đô la với chi phí tức thì và chi phí trên 5.000 đô la có thể được vốn hóa là tài sản. Nếu công ty thay đổi chính sách và bắt đầu tận dụng tất cả các mặt hàng trên 1.000 đô la, chi phí sẽ giảm trong ngắn hạn và lợi nhuận tăng. Khái niệm các khoản dồn tích bất thường Các khoản dồn tích tự định (Discretionary accruals viết tắt là DA) hay còn gọi là các khoản dồn tích bất thường (abnormal accruals) - các khoản dồn tích do nhà quản lý thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh thu nhập trong kỳ.vn/he-thong-don-bay-kinh-doanh-va-don-bay-tai- chinh-cua-doanh-nghiep/ (2) https://thebank.vn/blog/18530-don-bay-tai-chinh-la-gi.html (3) https://vietnambiz.vn/ke-toan-don-tich-accrual-basis-la-gi-phan-biet-ke- toan-don-tich-va-ke-toan-tien- htm (4) https://sotaydoanhtri.com/thuat-ngu/accrued-income-41581/ (5) https://www.com/ask/answers/191.asp (6) https://vietnambiz.vn/quan-li-loi-nhuan-earning-management-trong-ke- toan-la-gi- htm (7) https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/tai-chinh-doanh-nghiep/moi- quan-he-giua-luan-chuyen-kiem-toan-vien-va-chat-luong-kiem-toan- 132530. Lý thuyết nền về mối quan hệ của đòn bẩy đến quản lý thu nhập Mối quan hệ của đòn bẩy đến quản lý thu nhập được giải thích dựa trên nền tảng của các lý thuyết chính là “Lý thuyết Kế toán tích cực” (Watts và Zimmerman (1986)), “Lý thuyết Chi phí đại diện” (Jensen và Merkling (1976)), “Lý thuyết Dòng tiền tự do (Jensen (1986))”.
Đầu tiên, “Lý thuyết Kế toán tích cực” (Positive Accouting Theory) của Watts và Zimmerman (1986) nói rằng các công ty được hình thành từ các giao kết hợp đồng giữa những bên liên quan. Vì thế công ty sẽ lựa chọn các chính sách kế toán sao cho giảm thiểu tối đa chi phí của các hợp đồng này nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh. Mỗi bên đều có ý thức giảm chi phí khi tham gia hợp đồng nên xảy ra vấn đề xung đột lợi ích. Tuy nhiên người quản lý của doanh nghiệp là người linh hoạt hơn cả trong việc lựa chọn các chính sách kế toán phù hợp với lợi ích của mình.
Đây là động cơ dẫn đến việc điều chỉnh thu nhập.