MỞ ĐẦU Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa "Sức khỏe là tình trạng hoàn toàn khỏe mạnh về mặt thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không bệnh tật" [80]. Vì vậy, đánh giá hiệu quả chăm sóc y tế không còn chỉ dựa vào việc chúng ta sống bao lâu mà quan trọng là chúng ta sống thế nào? Chính điều này làm thay đổi hƣớng tiếp cận chăm sóc sức khỏe và các khái niệm chất lƣợng cuộc sống trong đó có chất lƣợng cuộc sống liên quan đến sức khỏe răng miệng (CLCS- SKRM) đƣợc ra đời. CLCS – SKRM là một khái niệm tƣơng đối mới bao gồm nhiều yếu tố liên quan mật thiết với nhau. Tổ chức Y Tế Thế Giới (2003) xác định CLCS – SKRM là một phần không thể tách rời của sức khỏe nói chung và là một bộ phận quan trọng trong chƣơng trình Sức Khỏe Toàn Cầu [68].
CLCS – SKRM có nhiều tác động quan trọng đến thực hành lâm sàng hàng ngày cũng nhƣ trong lĩnh vực nghiên cứu về nha khoa. Có nhiều biện pháp đánh giá CLCS – SKRM đƣợc hình thành và phát triển. Từ các chỉ số xã hội đơn giản đến các bộ câu hỏi nhiều mục chuyên biệt đƣợc sử dụng nhƣ chỉ số đánh giá sức khỏe tổng quát (GOAI), chỉ số tác động sức khỏe răng miệng (OHIP), sức khỏe răng miệng ảnh hƣởng lên sinh hoạt hàng ngày (OIDP), chỉ số tình trạng sức khỏe răng miệng chủ quan (S – OHIS), thang đo kết quả sức khỏe răng miệng (SOHO)… Sử dụng một trong những chỉ số này là một trong những biện pháp hiệu quả và chi tiết nhất cho việc đánh giá CLCS – SKRM [14]. Hầu hết các phƣơng tiện đo lƣờng CLCS – SKRM cho thấy sự chính xác và tính giá trị cao.
Các chỉ số này đƣợc sử dụng trong nhiều nghiên cứu cắt ngang, tiến cứu cũng nhƣ trong các nghiên cứu so sánh giữa những quốc gia khác nhau. Nhiều nghiên cứu thế giới cho thấy có mối liên quan giữa chất lƣợng cuộc sống và sức khỏe răng miệng nhƣ nghiên cứu của Sukuma (2015) [70], McKenna (2018) [53] Kaushik (2018) [46],. Tại Việt Nam, năm 2010 Nguyễn Châu Thoa và cộng sự thực hiện nghiên cứu tình trạng răng miệng ở đối tƣợng ngƣời trƣởng thành ở miền Nam Việt Nam, kết quả cho thấy tình trạng mất răng đang chiếm một tỷ lệ cao ở nƣớc ta, tỷ lệ mất răng tăng từ 70% ở ngƣời trẻ (20-29 tuổi) đến 96% ở ngƣời. Điều trị phục hình thành công không chỉ phục hồi chức năng và thẩm mỹ mà còn góp phần cải thiện chất lƣợng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân.
Tại Việt Nam, Lữ Lam Thiên (2014) đã đánh giá và cho thấy bộ câu hỏi OHIP- 19VN có giá trị và đáng tin cậy để đo lƣờng chất lƣợng cuộc sống trên đối tƣợng mất răng [6]. Nguyễn Thị Châu Thoa và CS áp dụng thử nghiệm bộ câu hỏi OHIP – 14VN trong đó có hiệu chỉnh phù hợp với ngôn ngữ Việt Nam, cho thấy OHIP – 14VN có cấu trúc phù hợp với tính giá trị và độ tin cậy chấp nhận đƣợc để áp dụng cho các nghiên cứu ở Việt Nam [56]. Nhiều nghiên cứu nhấn mạnh tình trạng mất răng toàn bộ gây ra những hậu quả về cảm xúc và tâm lý nhƣ những rối loạn khác của cơ thể. Ở Việt Nam có vài nghiên cứu về tác động của điều trị phục hình răng tháo lắp toàn bộ lên chất lƣợng cuộc sống nhƣ Nguyễn Thanh Hƣơng (2017) [3], Nguyễn Ngọc Đạt (2018) [2] nhƣng chƣa có nghiên cứu nào nói về tác động của phục hình cầu răng, tháo lắp bán phần lên chất lƣợng cuộc sống.
Nghiên cứu của John (2004) [43], Swelem (2014) [72], Amjid (2019) [13] cho thấy phục hình cố định và phục hình tháo lắp bán phần giúp cải thiện CLCS. Câu hỏi nghiên cứu đƣợc đặt ra là tác động của điều trị phục hình cầu răng và phục hình tháo lắp bán phần có góp phần cải thiện đƣợc chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân sau phục hình hay không. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ―Tác động của điều trị phục hình răng lên chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân đến điều trị tại bệnh viện Răng Hàm Mặt thành phố Hồ Chí Minh‖ với mục tiêu nhƣ sau:. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Đánh giá tác động của điều trị phục hình răng lên chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân đến điều trị tại khoa Phục hình của Bệnh viện Răng Hàm Mặt TPHCM.
Mục tiêu cụ thể 1. Đánh giá tác động của tình trạng mất răng lên chất lƣợng cuộc sống bệnh nhân đến điều trị tại khoa Phục hình Bệnh viện Răng Hàm Mặt TPHCM theo chỉ số OHIP – 14. Đánh giá hiệu quả của điều trị phục hình răng lên chất lƣợng cuộc sống bệnh nhân đến điều trị tại khoa Phục hình Bệnh viện Răng Hàm Mặt TPHCM sau 1 và 3 tháng điều trị theo chỉ số OHIP – 14. Phân tích các yếu tố liên quan đến điểm số OHIP – 14 của bệnh nhân đến điều trị tại khoa Phục hình Bệnh viện Răng Hàm Mặt TPHCM.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình mất răng Theo Kida (2007), mất răng thƣờng là kết quả của quá trình bệnh tật và do đó, nó đƣợc phân loại nhƣ một vấn đề vùng miệng. Mất răng đƣợc xem là một chỉ số của sức khỏe răng miệng trong nhóm dân cƣ, cung cấp thông tin thêm vào tỷ lệ bệnh vùng miệng cũng nhƣ các dịch vụ nha khoa đã đủ và hữu ích hay chƣa trong nhóm dân cƣ [47]. Lối sống liên quan đến những yếu tố nguy cơ nhƣ chọn lựa chế độ ăn uống kém, tiêu thụ thuốc lá và rƣợu quá mức, vệ sinh răng miệng kém đƣợc cho là có liên quan đến mất răng.
Thói quen ăn uống ảnh hƣởng đến sự phát triển của sâu răng, hơn nữa, tiêu thụ rƣợu và thuốc lá quá mức dẫn tới sự phá hủy mô nha chu nhiều hơn, và cuối cùng là mất răng (WHO, 2002, Petersen, 2003) [47], [64]. Mất răng dẫn đến những tổn hại về mặt thay đổi lâm sàng và lối sống của bệnh nhân. Mất răng sẽ dẫn đến các răng kế cận răng mất di chuyển, nghiêng đổ vào vùng mất răng, răng đối diện bị trồi làm thay đổi phát âm, hình dạng khuôn mặt và rối loạn khớp thái dƣơng hàm. Ngoài ra, xƣơng ổ răng tiếp tục bị tiêu đi và các cấu trúc nâng đỡ cũng bị ảnh hƣởng gây khó khăn cho việc phục hồi lại vùng răng đã mất.
Về cuộc sống, mất răng làm ăn uống hạn chế gây giảm cân. Hơn nữa, mất răng còn ảnh hƣởng chất lƣợng cuộc sống và không thoải mái về mặt tâm lý [42]. Theo tổ chức sức khỏe thế giới WHO 2016, mất răng do bệnh nha chu nặng là bệnh phổ biến thứ 11 trên toàn cầu. Nguyên nhân chính gây mất răng là bệnh sâu răng và nha chu.
Mất một số răng hay mất nhiều răng phố biến ở ngƣời cao tuổi, là một trong mƣời nguyên nhân hàng đầu của số năm sống đƣợc điều chỉnh đƣợc theo mức độ bệnh tật (YLD – Years Lived with Disability) [33]. Một vài nghiên cứu về phục hình tháo lắp cho thấy xu hƣớng mất răng toàn bộ giảm và mất răng bán phần tăng lên. Điều này phản ánh những thay đổi trong điều trị nha khoa nhằm khuyến khích bảo tồn răng tự nhiên và giảm mất răng toàn bộ. Kiểu mất răng khác nhau ở các nƣớc và tần suất mất răng bán phần cũng thay đổi rất lớn giữa các quốc gia khác nhau.
5 Với những tiến bộ trong chƣơng trình chăm sóc nha khoa phòng ngừa đã giúp giảm tình trạng mất răng (WHO, 2003) [7]. Tỷ lệ mất răng toàn bộ có khuynh hƣớng giảm trong thập niên qua, nhƣng mất răng vẫn là tình trạng thƣờng gặp trên toàn thế giới, đặc biệt ở ngƣời cao tuổi (Douglass, 2002) [27]. Số lƣợng ngƣời mất răng toàn bộ giảm theo thời gian nhƣng lại tăng theo tuổi (WHO, 2003) [7]. Theo Muller (2007) để so sánh tỷ lệ mất răng giữa các nƣớc là rất khó vì bị tác động của các yếu tố khác nhƣ giáo dục, hoàn cảnh kinh tế, lối sống, kiến thức sức khỏe răng miệng, niềm tin và thái độ chăm sóc răng miệng.
Tỷ lệ ngƣời mất răng ở các địa phƣơng cũng khác nhau có thể do các yếu tố liên quan đến tình trạng Fluor hóa nƣớc máy, thói quen hút thuốc lá… (Millar 2005) [54]. Theo các số liệu gần đây thì ở Mỹ, số ngƣời mất răng duy trì ở mức khoảng 9 triệu, trong đó ngƣời cao tuổi (trên 60 tuổi) chiếm 25% (Beltran-Aguilar, 2005) [16]. Tỷ lệ ngƣời mất răng cũng khác nhau ở các địa phƣơng, điều này đƣợc giải thích có thể do các yếu tố liên quan đến tình trạng Fluor hóa nƣớc máy, thói quen hút thuốc lá… (Millar, 2005) [54]. Tình trạng mất răng giảm ở các đất nƣớc công nghiệp đƣợc cho là liên quan tình trạng kinh tế phát triển cao, thái độ về việc chăm sóc sức khỏe răng miệng, sử dụng Fluor và có các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẵn có [7].
Tại các nƣớc đang phát triển cũng nhƣ Việt Nam, dịch vụ chăm sóc sức khỏe răng miệng, nhận thức của ngƣời dân về chăm sóc răng miệng còn nhiều hạn chế, răng thƣờng bị nhổ khi đau, khó chịu hoặc không có điều kiện chữa trị, vì vậy mà tỷ lệ mất răng cao. Ảnh hƣởng mất răng lên sức khỏe toàn thân, sức khỏe răng miệng và chất lƣợng cuộc sống Chức năng chính của răng là chức năng nhai, phát âm và thẩm mỹ. Việc mất răng và sự thay đổi các mô nâng đỡ sau mất răng có thể ảnh hƣởng xấu đến những chức năng này cùng với những hệ quả về mặt tâm lý [7]. Ảnh hƣởng mất răng lên sức khỏe toàn thân Theo nhiều nghiên cứu, mất răng ảnh hƣởng đến sức khỏe toàn thân.
Mặc dù có nhiều bằng chứng về mối quan hệ giữa tình trạng răng miệng và sức khỏe tổng quát (Felton, 2011; Kandelman, 2008) nhƣng cơ chế của tình trạng mất răng và sức. 6 khỏe kém vẫn chƣa rõ ràng. Mối quan hệ này đƣợc giải thích chủ yếu do sự mất răng làm ảnh hƣởng đến chế độ dinh dƣỡng, điều này sẽ ảnh hƣởng đến sức khỏe toàn thân và làm trầm trọng thêm các bệnh lý toàn thân[29], [31], [45]. Nghiên cứu về dinh dƣỡng thì ngƣời cao tuổi mang hàm giả có chế độ ăn với chất lƣợng thấp.
Nguyên nhân có thể vì ngƣời cao tuổi khó khăn khi nhai rau quả sống và hạn chế cảm nhận mùi vị. Những yếu tố khác cũng ảnh hƣởng việc lựa chọn thức ăn là tuổi tác, tình trạng kinh tế - xã hội, sức khỏe toàn thân. Sandstrom và Lindquist, 1987; Sebring, 1995 nhận thấy chế độ ăn của ngƣời mất răng chứa ít chất xơ và nhiều chất béo [7].