CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những nghiên cứu về công nghiệp hóa và đo lường công nghiệp hóa 1. Các nghiên cứu về nội hàm công nghiệp hóa Trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu khác nhau về nội hàm của CNH.
Các nghiên cứu phản ánh nội hàm CNH trong tiến trình phát triển của nền sản xuất xã hội và sự tiến bộ khoa học công nghệ. CNH được hiểu đơn giản nhất là “Quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế” (Từ điển bách khoa toàn thư mở). Quan niệm này được hình thành dựa trên khái quát hóa trình CNH ở nước Anh, các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Theo quan niệm này, CNH thực chất là phát triển ngành công nghiệp, coi ngành công nghiệp là đối tượng, là mục tiêu của quá trình CNH còn các ngành kinh tế khác là hệ quả tất yếu của phát triển công nghiệp.
Tuy vậy, quan niệm này có thể được coi là phù hợp trong bối cảnh các nước tiến hành CNH khi trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội và khoa học công nghệ chưa cao. Nhiều nghiên cứu khác về nội hàm của CNH cũng cho rằng quá trình CNH thực chất chính là phát triển ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng. Nhiều học giả Liên Xô cũ cho rằng “CNH là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp. Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là chế tạo máy” (Trích dẫn bởi Nguyễn Kế Tuấn, 2015).
Cũng giống như quan niệm về CNH ở các nước phương Tây, quan niệm về CNH ở Liên Xô cũ và một số nước trong đó có Việt Nam được coi là hợp lý trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ như hiện nay thì quan niệm này có thể không còn phù hợp. Ngày nay các nước tiến hành CNH trong bối cảnh trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội và khoa học công nghệ đã đạt đến đỉnh cao. Chính vì vậy, nội hàm CNH có những nét mới, CNH không đơn thuần là sự phát triển ngành công nghiệp mà là sự phát triển hiệu quả tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân dựa trên nền tảng tiến bộ khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế.
UNIDO (1963) cho rằng, CNH thực chất là một quá trình phát triển kinh tế trong đó có sự huy động ngày càng lớn nguồn lực của một quốc gia để xây dựng cơ cấu kinh tế đa ngành với công nghệ hiện đại để sản xuất ra các phương tiện sản xuất, hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảm nhịp độ 6 tăng trưởng kinh tế cao, đảm bảo sự tiến bộ về kinh tế và xã hội. Quan niệm này hàm chứa khá đầy đủ các yếu tố của tiến trình phát triển một nền kinh tế công nghiệp với nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế đa ngành trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất. CNH theo định nghĩa này còn hàm chứa cả sự tiến bộ và công bằng xã hội, một yêu cầu tất yếu của mọi quá trình phát triển. Ở Việt Nam, nội hàm của CNH cũng có những điều chỉnh, bổ sung theo tiến trình phát triển kinh tế – xã hội đất nước.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII năm 1994 đã đưa ra quan niệm về CNH, cho rằng CNH là một quá trình “chuyển đổi một cách căn bản và toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Mặc dù quan niệm về CNH của Đảng ra đời trong bối cảnh đất nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường nhưng đây là quan niệm khá đầy đủ, toàn diện và có giá trị lâu dài về CNH. Nhận thức về nội hàm CNH này đã phản ánh sự chuyển biến trong phương thức sản xuất từ sản xuất thủ công sang sản xuất bằng các phương tiện hiện đại, dựa trên nền tảng phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ để tạo ra năng suất lao động cao hơn. Nhiều học giả ở Việt Nam cũng đưa ra quan niệm về CNH dựa trên sự chuyển biến về mặt vật chất của nền sản xuất xã hội từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại.
Đỗ Quốc Sam (2009) cho rằng, theo nghĩa hẹp CNH được hiểu là “quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang nền kinh tế lấy công nghiệp làm chủ đạo, từ chỗ tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm đa số giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn”. Có thể thấy rằng, quan niệm này phản ánh những vấn đề cốt lõi của quá trình CNH và cho đến nay, mặc dù CNH tiến hành trong bối cảnh mới nhưng ở một khía cạnh nào đó, quan niệm này vẫn đúng. CNH luôn đi cùng với tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP và tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm dần. Cũng theo Đỗ Quốc Sam (2009), CNH theo nghĩa rộng là “quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp”.
Khái niệm CNH theo nghĩa rộng phản ánh khá đầy đủ nội hàm của CNH trên tất cả các khía cạnh của sự phát triển, bao gồm sự chuyển biến về kinh tế, xã hội và nền văn minh từ văn minh nông nghiệp 7 truyền thống sang nền văn minh công nghiệp hiện đại. Như vậy, CNH là một quá trình biến đổi về chất của nền kinh tế, xã hội. Đỗ Hoài Nam (2010) cho rằng CNH “là quá trình cải biến nền kinh tế nông nghiệp dựa trên nền tảng kỹ thuật thủ công, mang tính hiện vật, tự cấp - tự túc thành nền kinh tế công nghiệp – thị trường”. Quan niệm này cho rằng, CNH là một quá trình gồm hai mặt cơ bản: Thứ nhất, CNH là quá trình chuyển biến căn bản trình độ kỹ thuật của nền kinh tế, từ trình độ thủ công chuyển sang trình độ cơ khí, biến nền kinh tế nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp; Thứ hai, CNH là quá trình cải biến thể chế và cơ chế kinh tế, từ nền kinh tế hiện vật – khép kín, tự túc sang nền kinh tế thị trường có sự phân công lao động xã hội và tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Từ khái niệm trên có thể thấy rằng CNH chính là quá trình thay đổi phương thức phát triển của nền kinh tế cả về khía cạnh vật chất kỹ thuật và khía cạnh cơ chế, thể chế chính sách. Đỗ Hoài Nam (2010) cũng cho rằng, giai đoạn từ nửa sau thế kỷ XX cho đến nay là thời đại phát triển hiện đại và thời đại phát triển hiện đại trở thành nhân tố quyết định tiến trình kinh tế của nhân loại, trong đó có tiến trình CNH. Chính vì vậy, CNH trong giai đoạn này tất yếu mang đặc trưng hiện đại hóa, còn gọi là CNH, HĐH. Cùng quan điểm với Đỗ Quốc Sam và Đỗ Hoài Nam, Bùi Tất Thắng (2011) cho rằng CNH là quá trình “biến nền sản xuất xã hội chủ yếu dựa trên phương thức sản xuất nông nghiệp sang phương thức sản xuất công nghiệp”.
Quan điểm này phản ánh ngắn gọn CNH như là sự thay đổi về chất của nền kinh tế, của phương thức sản xuất trong nền kinh tế đó. Khái quát những quan điểm trên, Nguyễn Kế Tuấn (2015) cho rằng “CNH, HĐH là quá trình chuyển từ trình độ nền kinh tế, xã hội và văn minh nông nghiệp (hoặc tiền công nghiệp) lên trình độ nền kinh tế, xã hội và văn minh công nghiệp theo hướng hiện đại”. Có thể thấy rằng, nội hàm CNH có sự thay đổi đáng kể theo tiến trình phát triển kinh tế xã hội, không đơn thuần chỉ là sự phát triển của ngành công nghiệp như quan niệm ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ trong thời kỳ đầu mà là sự phát triển đa ngành trên nền tảng tiến bộ khoa học công nghệ, hướng đến sự phát triển bền vững. Các công trình nghiên cứu về tiêu chí đánh giá công nghiệp hóa ở phạm vi quốc gia Công nghiệp hóa có thể được đo lường và đánh giá ở phạm vi quốc gia hoặc phạm vi vùng hay địa phương.
Nhiều nghiên cứu cho rằng, CNH chính là quá trình để một nước trở thành “nước công nghiệp” và ngược lại, nước công nghiệp là nước đã “hoàn thành quá trình CNH”. Như vậy, đo lường quá trình CNH chính là đo lường 8 nước công nghiệp và ngược lại. Muốn ước lượng và so sánh trình độ CNH của một nước hay một vùng lãnh thổ thì cần phải lượng hóa các tiêu chí đánh giá. Mỗi tiêu chí gồm một số chỉ tiêu định lượng có thể tính toán được và thể hiện đầy đủ tính chất của tiêu chí đó.
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về tiêu chí đo lường CNH ở phạm vi quốc gia. Ở nước ngoài, những nghiên cứu về CNH được các tổ chức, các nhà nghiên cứu tiến hành sớm hơn ở các nước mà cho đến nay đã trở thành các nước CNH hay các nước phát triển. Tuy nhiên, phần lớn các nước trên thế giới vẫn đang trong quá trình CNH, chính vì vậy nghiên cứu các tiêu chí đo lường CNH và so sánh giữa các vùng, các quốc gia vẫn có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn. Syrquin & Chenery (1989) chia quá trình CNH thành ba giai đoạn: giai đoạn khởi đầu CNH, giai đoạn phát triển CNH và giai đoạn hoàn thiện CNH.
Các chỉ tiêu đo lường và đánh giá các giai đoạn khác nhau của quá trình CNH gồm 5 chỉ tiêu: (i) GDP bình quân đầu người; (ii) Cơ cấu ngành kinh tế; (iii) Tỷ trọng công nghiệp chế tác; (iv) Tỷ trọng lao động nông nghiệp và (v) Đô thị hóa.