phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bố cục thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thu hút vón đầu tƣ phát triển công nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2007 - 2012. Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tƣ phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Bình đến năm 2020. Tổng quan nghiên cứu của đề tài Trong những năm gần đây, có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề thu hút vốn đầu tƣ dƣới các góc độ và phạm vi khác nhau.
Tuy nhiên về thu hút vốn đầu tƣ phát triển công nghiệp tại địa bàn của một tỉnh thì chƣa nhiều. Các công trình nghiên cứu về thu hút vốn đầu tƣ thƣờng tập trung vào các khía cạnh nhƣ: Phan Nhật Thanh (2006),“Giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, luận văn thạc sĩ kinh tế; Nguyễn Văn Biện (2006),“Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm phát triển công nghiệp Thanh Hoá”, luận văn thạc sĩ kinh tế; Nguyễn Thị Loan (2010), “Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp tại tỉnh Bình Phước”, luận văn thạc sĩ kinh tế: Các tác giả đã hệ thống hóa đƣợc vấn đề lý luận về thu hút vốn đầu tƣ phát triển công nghiệp, qua phân tích thực Luan van 4 trạng phát triển công nghiệp tại địa phƣơng đã đƣa ra các giải pháp phù hợp, tuy nhiên chỉ tập trung vào khía cạnh thu hút vốn FDI để phát triển công nghiệp hoặc thu hút vốn đầu tƣ để phát triển công nghiệp tại một tỉnh mang tính chất đặc thù riêng, khác với đặc điểm của tỉnh Quảng Bình. Nguyễn Thị Giang (2010), “Huy động và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế khu vực đồng bằng sông Cửu Long", Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: để thu hút vốn đầu tƣ vào địa phƣơng dù là nguồn vốn trong nƣớc hay nƣớc ngoài thì điều kiện môi trƣờng kinh doanh thông thoáng chƣa đủ cần phải có quy hoạch rõ ràng minh bạch các khu công nghiệp đồng thời quy hoạch đó phải gắn kết với các tỉnh trong khu vực, nghĩa là cần có sự liên kết kinh tế giữa các địa phƣơng tốt sẽ tạo ra môi trƣờng đầu tƣ tốt không cạnh tranh lẫn nhau. Võ Hoàng Khiêm (2005), "Huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển tại tỉnh Bạc Liêu trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (2006-2020)", Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: cho rằng các nguồn vốn có thể huy động cho phát triển ở tỉnh Bạc Liêu là nguồn vốn từ ngân sách, nguồn vốn của khu vực tƣ nhân, nguồn vốn nƣớc ngoài, trong đó nhấn mạnh đến việc hình thành thị trƣờng vốn.
Khẳng định để thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào tỉnh cần giải quyết các vấn đề cơ sở pháp lý, cơ sở hạ tầng hỗ trợ, công tác nghiên cứu quy hoạch, xây dựng danh mục kêu gọi đầu tƣ nƣớc ngoài, chính sách về lao động, công tác quản lý… Nguyễn Thị Minh Hằng (2011), "Chính sách tài chính với thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam", luận án tiến sĩ kinh tế. Tác giả đi sâu nghiên cứu những điều kiện cần thiết để sử dụng hiệu quả chính sách tài chính nhằm mục đích thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Luan van 5 Trần Ngọc Hoàng (2004), "Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế đối với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (minh họa tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam)", luận án tiến sĩ kinh tế. Tác giả tập trung nghiên cứu hoàn thiện chính sách thuế của Việt Nam nhằm tăng cƣờng thu hút vốn FDI vào nƣớc ta.
Nguyễn Thị Kim Nhã (2005), "Giải pháp tăng cường thu hút đầu nước ngoài ở Việt Nam", luận án tiến sĩ kinh tế. Tác giả nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam. Trên thế giới, nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các nƣớc, đặc biệt là với những nƣớc đang phát triển. Nguồn vốn này thƣờng phân thành đầu tƣ trực tiếp (FDI), viện trợ phát triển chính thức (ODA) và đầu tƣ gián tiếp (FPI), trong đó FPI đƣợc xem là một kênh thu hút vốn quan trọng của thị trƣờng tài chính.
So với vốn đầu tƣ trực tiếp thì vốn đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài vào Việt Nam vẫn ở mức thấp, chỉ khoảng 2-3% GDP.Vì thế, việc khơi thông và duy trì dòng vốn này là thực sự cần thiết. Theo tác giả để thu hút nguồn vốn này: - Cần có chiến lƣợc thu hút đầu tƣ có trọng điểm; - Hoàn thiện hành lang pháp lý để thu hút; - Tăng cƣờng tính minh bạch của thị trƣờng chứng khoán; - Tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp. Nguyễn Thị Mỹ Dung (2009), "Thu hút vốn đầu tư phát triển khu công nghiệp cao thành phố Hồ Chí Minh", luận án tiến sĩ kinh tế và Lê Phƣớc Thanh (2007), "Giải pháp huy động vốn phát triển khu kinh tế mở Chu Lai", luận án tiến sĩ kinh tế. Các Tác giả tập trung nghiên cứu thu hút vốn đầu tƣ phát triển khu kinh tế, khu công nghiệp chứ không đi sâu nghiên cứu thu hút vốn đầu tƣ phát triển công nghiệp.
Luan van 6 Nguyễn Thị Thu Hƣơng (2004), "Hoàn thiện công tác xúc tiến đầu tư nhằm phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam", luận án tiến sĩ kinh tế. Tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu các biện pháp xúc tiến đầu tƣ chứ không đi sâu nghiên cứu công tác thu hút vốn đầu tƣ. Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến việc thu hút vốn đầu tƣ phát triển kinh tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc ở nƣớc ta. Mặt khác, việc nghiên cứu của những công trình khoa học này chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó trong chính sách thu hút vốn đầu tƣ.
Chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu có hệ thống tập trung vào vấn đề thu hút vốn đầu tƣ phát triển công nghiệp ở tỉnh Quảng Bình hiện nay. Tác giả kế thừa, vận dụng những luận điểm các công trình đã nghiên cứu trƣớc đây, từ đó đƣa ra hƣớng nghiên cứu cho mình. Luan van 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƢ VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƢ VÀ VỐN ĐẦU TƢ 1.
Một số khái niệm a. Đầu tư, các loại đầu tư Hiện nay có rất nhiều khái niệm về đầu tƣ. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau mà các nhà kinh tế học đƣa ra các khái niệm về đầu tƣ khác nhau: Nhà kinh tế học John M.Keynes cho rằng: “Đầu tƣ là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi nhuận”. Nhà kinh tế học P.A Samuelson thì cho rằng: “Đầu tƣ là hoạt động tạo ra vốn tƣ bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tƣ vào tài sản cố định của doanh nghiệp nhƣ máy móc, thiết bị và nhà xƣởng và tăng thêm hàng tồn kho.
Đầu tƣ cũng có thể dƣới dạng vô hình nhƣ giáo dục, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, nghiên cứu, phát minh…”. Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tƣơng lai, đầu tƣ đƣợc hiểu là việc từ bỏ tiêu dùng hôm nay để tăng sản lƣợng cho tƣơng lai, với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do đầu tƣ đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tƣ. Do đó, đầu tƣ theo cách dùng thông thƣờng là việc cá nhân hoặc công ty mua sắm một tài sản nói chung hay mua một tài sản tài chính nói riêng. Tuy nhiên, khái niệm này chỉ tập trung chủ yếu vào đầu tƣ tạo thêm tài sản vật chất mới (nhƣ máy móc, thiết bị, nhà xƣởng…) và để thu về một khoản lợi nhuận trong tƣơng lai.
“Khi một ngƣời mua hay đầu tƣ một tài sản, ngƣời đó mua quyền để đƣợc hƣởng các khoản lợi ích trong tƣơng lai mà ngƣời đó hy vọng có đƣợc qua việc bán sản phẩm mà tài sản đó tạo ra”. Quan niệm của ông đã nói lên kết quả của đầu tƣ về hình thái vật chất là tăng thêm tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị, kết quả thu đƣợc lớn hơn chi phí bỏ ra. Luan van 8 Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tƣ định nghĩa: “Đầu tƣ là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình và vô hình để hình thành tài sản tiến hành các loại hoạt động đầu tƣ theo quy định của luật này và các văn bản pháp luật có liên quan”. Khái niệm này cho thấy đầu tƣ chỉ là việc bỏ vốn để hình thành tài sản mà không cho thấy đƣợc kết quả đầu tƣ sẽ thu đƣợc lợi ích kinh tế nhƣ thế nào.
Đầu tƣ là hoạt động kinh tế rất phổ biến và có tính chất liên ngành. Có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tƣ nhƣng suy cho cùng có thể hiểu đầu tƣ trên hai góc độ khác nhau: Theo nghĩa rộng: Đầu tƣ là sự hi sinh nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho ngƣời đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực (tài lực, vật lực, nhân lực, trí lực.) đã bỏ ra để đạt đƣợc các kết quả đó. Kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đƣờng sá, các của cải vật chất khác) và gia tăng năng suất lao động trong nền sản xuất xã hội. Theo nghĩa hẹp: Đầu tƣ chỉ bao gồm các hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó.
Nhƣ vậy, nếu xem xét trong phạm vi quốc gia thì chỉ có những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có thuộc phạm trù đầu tƣ theo nghĩa hẹp hay đầu tƣ phát triển.