CHƯƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾTVỀ TÁC ðỘNG CỦA ðẦU TƯ TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN 1. Tổng quan các tài liệu ở nước ngoài Các nghiên cứu có liên quan tới tác ñộng của vốn ñầu tư tới tăng trưởng kinh tế có rất nhiều vì ñây là chủ ñề ñã ñược các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, ….quan tâm rất nhiều. Chủ ñề này ñã ñược nghiên cứu từ thế kỷ 18 và tiếp tục phát triển cho tới nay.
Chúng có thể ñược trình bày riêng và cũng có có thể ñược ñề cập trong các nghiên cứu về mô hình tăng trưởng kinh tế. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế của các nhà nghiên cứu thế giới tập trung vào lý giải cơ chế phân bổ nguồn lực ñể tạo ra sản lượng theo nhiều cách khác nhau. Theo thời gian có các nghiên cứu sau: - Adam Smith (1723-1790) ñược coi là người sáng lập ra kinh tế học và là người ñầu tiên nghiên cứu lý luận tăng trưởng kinh tế một cách có hệ thống. Theo Adam Smith, tác ñộng của vốn tới tăng trưởng kinh tế thông qua quá trình tích lũy tư bản - vốn sản xuất.
Quá trình tích lũy tư này tạo ra sự gia tăng vôn sản xuất cho nền kinh tế qua ñó thúc ñẩy nâng cao năng suất lao ñộng và phân công lao ñộng. Quá trình tích lũy ñòi hỏi phải tiết kiệm nhiều hơn hay tiêu dùng hợp lý. Tuy rằng các lập luận này chỉ dựa vào những suy luận có tính chất ñịnh tính nhưng cho ñến nay vẫn có giá trị. Quan ñiểm này cho ñến nay vẫn có ý nghĩa lớn trong vận dụng hoạch ñịnh chính sách huy ñộng và sử dụng vốn vào tăng trưởng kinh tế.
- Tập trung phân tích chủ nghĩa tư bản thông qua mối quan hệ giữa tiền vốn và lao ñộng là quan ñiểm tăng trưởng kinh tế của K. Theo Marx ngoài các yếu tố tác ñộng ñến quá trình tăng trưởng là ñất ñai, lao ñộng và tiến bộ kỹ thuật thì vốn có vai trò ñặc biệt quan trọng. Theo Marx, sức lao Luan van 6 ñộng ñối với nhà tư bản là một loại hàng hóa ñặc biệt, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao ñộng không giống như giá trị sử dụng của các loại hàng hóa khác, vì nó có thể tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó, giá trị ñó bằng giá trị sức lao ñộng cộng với giá trị thặng dư. Tuy rằng Marx ñặc biệt quan tâm ñến vai trò của lao ñộng trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư và cố gắng làm rõ bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Nhưng ông cũng chỉ ra quá trình tăng trưởng của nền kinh tế này gắn liền với quá trình tích lũy tư bản. Và Marx gọi ñó là nguyên lý tích lũy tư bản cho tăng trưởng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản. Ở ñây tuy ông ñã ñề cập tới vai trò của vốn với tăng trưởng kinh tế nhưng không phải là mục ñịch chính và Marx chính là chưa chỉ ra ñược tỷ suất lợi nhuận giảm sẽ hạn chế tích lũy vốn kéo theo hạn chế tăng trưởng. - Vào năm 1940 với sự nghiên cứu một cách ñộc lập, hai nhà kinh tế học là Roy Harrod (1900 - 1978) ở Anh và Every Domar (1914-1997) ở Mỹ ñã nghiên cứu về tác ñộng của vốn tới tăng trưởng kinh tế trong các lý thuyết kinh tế.Khi ñó, các tác giả ñã ñưa ra mô hình phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng và vốn mang tên Harrod - Domar, giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở các nước phát triển.
Mô hình này cũng ñược sử dụng rộng rãi ở các nước ñang phát triển ñể xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về vốn. Theo ñó ñể tăng trưởng, các nước phải tiết kiệm và ñầu tư một phần thu nhập, khi tiết kiệm và ñầu tư càng nhiều thì tăng trưởng càng nhanh. ðây cũng là nghiên cứu trực tiếp chỉ ra tác ñộng của vốn tới tăng trưởng kinh tế. Nhưng mô hình này cũng bộc lộ những nhược ñiểm nhất ñịnh, khó có cùng một thể chế và cơ cấu kinh tế như nhau ñể biến vốn thành sản lượng như nhau ở mọi nước, không thể duy trì tỷ lệ vốn trên lao ñộng không ñổi và ICOR cố ñịnh thì không thể ñạt ñược.
Các nhà kinh tế tân cổ ñiển bác bỏ quan ñiểm cổ ñiển cho rằng sản xuất Luan van 7 trong một tình trạng nhất ñịnh ñòi hỏi những tỷ lệ nhất ñịnh về lao ñộng và vốn, họ cho rằng vốn và lao ñộng có thể thay thế cho nhau, và trong quá trình sản xuất có thể có nhiều cách kết hợp giữa các yếu tố ñầu vào. ðồng thời họ cho rằng tiến bộ khoa học kỹ thuật là yếu tố cơ bản ñể thúc ñẩy sự phát triển kinh tế. Lý thuyết về mô hình tăng trưởng Tân cổ ñiển ñược kết hợp từ công trình “Sự ñóng góp cho lý thuyết tăng trưởng kinh tế” của Robert Solow (1956) và công trình “Tăng trưởng kinh tế và tích lũy vốn” của Trevor Swan (1956). Tác ñộng của vốn tới tăng trưởng kinh tế theolý thuyết này về cơ bản thống nhất với lý thuyết trên.
Sự kế thừa và phát triển của lý thuyết này tập trung vào giả thích cách thức vốn tác ñộng vào tăng trưởng kinh tế.Lý thuyết này xem xét một nền kinh tế giản ñơn không có chính phủ, ñóng cửa và sản xuất hàng hóa dịch vụ nhờ vào lao ñộng và vốn sản xuất, ở ñây tiến bộ công nghệ là cho trước và tỷ lệ tiết kiệm ngoại sinh, trình ñộ công nghệ của các doanh nghiệp như nhau. Tích lũy vốn sản xuất quyết ñịnh tăng trưởng kinh tế. Khi cho tỷ lệ tiết kiệm tăng lên thì trạng thái dừng thay ñổi và tăng trưởng tiếp tục. Khi mô hình ñược mở rộng ñiều kiện tiến bộ công nghệ thay ñổi theo hướng tiến bộ hơn, khi ñó tăng trưởng kinh tế tiếp tục và duy trì trong dài hạn.
Mô hình cho thấy việc tiếp thu công nghệ mới thông qua phát minh trong nước hay nhập khẩu công nghệ mới từ nước ngoài, có thể kích thích tăng trưởng kinh tế mạnh như thế nào. Tuy nhiên, lý thuyết này cũng có một vài hạn chế như: nó không làm rõ những yếu tố then chốt ảnh hưởng ñến trạng thái ổn ñịnh; Lý thuyết mới chỉ bao gồm một khu vực, nên không làm rõ ñược vai trò của sự phân bổ vốn và lao ñộng giữa các lĩnh vực sản xuất khác nhau (ví dụ như nông nghiệp và công nghiệp) có thể có ảnh hưởng quan trọng ñối với năng suất; Lý huyết này chỉ xem các yếu tố tỉ lệ tiết kiệm, tăng trưởng cung lao ñộng, trình ñộ kỹ năng của lực lượng lao ñộng và tỉ lệ thay ñổi công nghệ là yếu tố cho trước. Luan van 8 Tăng trưởng phải dựa vào các nhân tố chiều sâu như lý thuyết tăng trưởng nội sinh với các nghiên cứu của Kenneth, J. Mô hình này dựa trên hai giả thiết về tăng năng suất (i) sự gia tăng khối lượng vốn sản xuất của một doanh nghiệp sẽ gia tăng khối lượng kiến thức.
(ii) kiến thức trong mỗi doanh nghiệp giống như hàng hoá công khi ñược tạo ra, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng có thể sử dụng nhưng không làm tăng chi phí biên. Nếu chúng ta liên kết hai giả thuyết trên chúng ta có thể nhận ra trữ lượng kiến thức hay công nghệ có tương quan thuận với trữ lượng vốn sản xuất và ñưa vào hàm sản xuất có lợi suất không ñổi theo quy mô. Từ ñây cho thấy tăng trưởng kinh tế sẽ bằng tốc ñộ tăng trưởng vốn sản xuất cộng với thị phần của lao ñộng nhân với tốc ñộ tăng lao ñộng hay tăng trưởng kinh tế là nội sinh bởi vì nó phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm trong nước, hiệu quả ñầu tư và tỷ lệ tăng lao ñộng. Sự phát triển kinh tế thế giới theo hướng hội nhập và mở của ñã cho phép các nguồn lực, hàng hóa, dịch vụ lao ñộng di chuyển giữa các quốc gia.
Từ ñây ñã có rất nhiều nghiên cứu xem xét tác ñộng của vốn ñầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế chủ nhà. Ở ñây có thể kể ra một số nghiên cứu trong ñó: - ðể nghiên cứu quan hệ nhân quả giữa các dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế, Zhang (2001) ñã sử dụng lượng vốn FDI thực tế thực hiện hàng năm và số liệu GDP thực cho 11 nước ñang phát triển có thu nhập cao và thu nhập thấp tại khu vực ðông Á và Mỹ Latin. Các kiểm ñịnh Johansen, các mô hình hiệu chỉnh sai số và kiểm ñịnh quan hệ nhân quả Granger ñã ñược áp dụng. Ông kết luận rằng tác ñộng của FDI vào tăng trưởng kinh tế qua kênh ñầu tư nước chủ nhà là phụ thuộc vào ñặc ñiểm của từng quốc gia.
Dòng vốn FDI có tác dụng thúc ñẩy tăng trưởng ở các nước ðông Á như ðài Loan. Luan van 9 - Sử dụng hai bộ dữ liệu của Ngân Hàng Thế Giới và IMF của 72 nước thời kỳ 1960 -1995, Carkovic và Levine (2002) ñã kết luận FDI không có tác ñộng mạnh mẽ nào ñến tăng trưởng qua kênh ñầu tư. Thêm nữa, họ chỉ ra rằng FDI tác ñộng ñến tăng trưởng không phụ thuộc bởi sự thay ñổi của vốn con người. ðối với trường hợp của Sri Lanka, Athukorala (2003) cũng khẳng ñịnh không có kết nối nào chặt chẽ giữa FDI và tăng trưởng.
Nghiên cứu còn chứng minh tác ñộng nhân quả không phải từ FDI ñến tăng trưởng mà là tăng trưởng ñến FDI. Durham (2004) cũng có kết quả tương tự trong việc phủ nhận một mối tương quan dương giữa FDI và tăng trưởng khi sử dụng dữ liệu của 80 quốc gia thời kỳ 1979 -1998. - Xem xét tác ñộng của xuất khẩu và FDI ñối với tăng trưởng kinh tế của các nước Nam Á như Bangladesh, Ấn ðộ, Pakistan và Sri Lanka. Agama (2010) ñã sử dụng dữ liệu thứ cấp trong thời kỳ 1980-2009 và sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính.
Ông phát hiện ra rằng các tác ñộng dương của xuất khẩu và FDI ñều có ý nghĩa thống kê. Ông ñề xuất rằng các nhà hoạch ñịnh chính sách của mỗi quốc gia Nam Á cần ña dạng hóa xuất khẩu của nước này ñể tăng khối lượng xuất khẩu và gia tăng dòng vốn FDI bởi vì nó có tiềm năng thúc ñẩy tăng trưởng kinh tế trong tương lai của các nền kinh tế Nam Á. - Nghiên cứu tác ñộng của FDI ñối với tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và Ấn ðộ trong thời kỳ 1993-2009.