CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE XÃ NHẬT TAN 1. Vi tri dia ly Xã Nhat Tân nằm về phía Bắc huyện Tiên Lữ, có phía Bắc giáp với xã Hưng Đạo, phía Nam giáp xã An Viên, phía Tây giáp xã Trung Nghĩa (Thành phố Hưng Yên) và xã Hiệp Cường (huyện Kim Động), phía Đông giáp hai xã Ngô Quyên và Dị chế. Vị tri này tạo cho Nhật Tân địa thế thuận tiện cho sản xuất và giao lưu văn hóa- kinh tế. Về giao thông tương đối thuận tiện, con đường liên xã nối liền 5 thôn trong xã và khai thông với hai xã Hiệp Cường và Hưng Đạo, có chiều dài trên 4km.
Ngoài ra, con đường liên tỉnh 39B chạy ngang qua phía Nam của xã dài gần 3km cắt xóm Nam Dương của thôn Phượng Tường thuộc về vùng đất phì nhiêu. Chạy song song với đường 39B là dòng sông đào trong mát đủ sức tưới tiêu cho đồng đất Nhật Tân. Tắt cả sông ngòi và đường xá, xóm làng và đồng ruộng đã tạo nên cảnh quan đẹp mắt và trù phú. Vì vậy, xã Nhật Tân có địa thế thuận lợi cho giao thông và giao lưu kinh tế- văn hóa đối với các địa phương khác trong huyện và ngoài tỉnh.
Theo đường 39B về phía Tây là tới thị xã Hưng Yên- nơi rực rỡ một thời phố Hiến của Dang Ngoài “Thi nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Pho Hiến”. Từ đây có thé di sang tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Hải Dương và lên thủ đô Hà Nội được thuận tiện. Đồng thời, vị trí địa lý của xã Nhật Tân cho phép nhân dân trong xã khai thác và giao lưu kinh tế cả một vùng lúa màu rộng lớn của phía Nam huyện Ân Thi và phía Tây Bắc huyện Tiên Lữ với các thị trường trong và ngoài tỉnh. Điều kiện tự nhiên ¢ Địa hình Xã Nhật Tân nói riêng và huyện Tiên Lữ nói chung nằm trong vùng trũng của tỉnh Hưng Yên nên không có đồi núi cao, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông nên thuận lợi cho việc canh tác sản xuất nông nghiệp.
—_—_——__—_—_—_—_—_—_—_—_—_—_——— EE LL — EE K56-Viét Nam Hoc va Tiéng Viét 5 Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Thu Huyền « Khí hau Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm có 4 mùa rõ rệt. Mùa xuân từ tháng 2 đến tháng 4. Mùa hạ kéo dài từ tháng 5 đến tháng 7. Mùa thu từ tháng 8 đến tháng 10.
Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình ở mùa hạ khoảng 24°C- 27°C, đây là mùa có nhiều mưa bão gây ảnh hưởng đến sản xuất đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Mùa đông nhiệt độ trung bình khoảng 18°C- 24°C. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1680- 1730 mm, có năm lượng mưa lên đến 2000 mm.
Mưa thường tập trung vào tháng 6, 7 và kết thúc vào tháng 12. ¢ Thuy văn Nguồn nước mat phục vụ sản xuất cũng như cung cấp cho sinh hoạt hàng ngày khá đổi dào được lấy từ 2 con sông chính là sông Hòa Bình chạy dài trên địa ban xã khoảng 2,5km và sông Điện Biên chạy dài khoảng 2km. Nguồn nước ngầm hiện nay đã được khai thác và đưa vào sử dụng. Mực nước các ao, sông, hồ trên địa bàn xã nhìn chung nhiều nước vào mùa mưa và cạn nước vào mùa khô.
* Tai nguyên đất dai Thé nhưỡng của xã Nhật tân chủ yếu là đất phù sa không được bồi đắp hang năm. Thành phan cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, dễ canh tác phù hợp với nhiều loại cây trồng cho năng xuất, chất lượng 6n định đặc biệt là cây lúa và cây ăn quả. Tuy nhiên cần phải kết hợp với các biện pháp kỹ thuật cải tạo bồi bé đất tốt hơn nữa dé tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Nhìn chung, xã Nhật Tân có điều kiện đất đai và khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng, phát triển các sản phẩm nông nghiệp phục vụ đời sống dân cư và phát triển cây lương thực, cây công nghiệp đặc biệt là cây ăn quả.
Hạn chế về khí hậu và thủy văn là mùa đông khô lạnh thường thiếu nước và mùa mưa thường bị bão, gây ngập úng ảnh hưởng đến năng suất vụ Sn ——_——_—_—_—_—_— KS6-Việt Nam Học và Tiếng Việt 6 $ Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Thu Huyền EE mùa và vu đông. Với những han chế này đòi hỏi phải tìm ra những giải pháp hữu hiệu trong chuyên đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp để sử dụng hợp ly quỹ đất, né tránh những bất lợi về khô hạn, đặc biệt là về ngập úng. Đối với các hoạt động kinh tế- xã hội khác cũng chịu ảnh hưởng xấu của khí hậu- thủy văn nên cần đề phòng và có biện pháp kịp thời để hạn chế thiệt hại. Lịch sử hình thành và cư dan Xã Nhật Tân ngày nay là vùng đất của huyện Tiên Lữ, tinh Hưng Yên.
Trong lịch sử, địa danh và phạm vi hành chính đã nhiều lần thay đổi. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, xã Nhật Tân có 5 thôn đều thuộc tông Cao Cương, huyện Tiên Lữ, tinh Hưng Yên: An Trạch (Làng Lựa), Cao Đoài (Làng Nắng), Cao Đông (Chợ Chùa), Linh Hạ (Làng Sành), Phượng Tường (Phượng Tường). Đầu năm 1946, năm thôn Phượng Tường, Phù Oanh, Đào Đặng, Đặng Cầu, Nội Linh lập thành xã Đầu Sơn. Các thôn An Trạch, Cao Đông Cao Đoài, Linh Hạ, Tính Linh, Xuân Điểm lập thành xã Minh Tân.
Vào năm 1948, do yêu cầu của cuộc kháng chiến phải xây dựng hậu phương nên đã cắt thôn Xuân Điểm về xã Hưng Đạo, thôn Nội Linh về xã Ngô Quyền, còn lại 9 thôn của hai xã Đâu Sơn và xã Minh Tân hợp nhất gọi là xã Nhật Tân. Tên gọi “Nhật Tân” được duy trì từ đó cho đến nay. Nhưng địa danh hành chính luôn thay đổi, đến năm 1956 lại phân chia lần nữa để phù hợp với yêu cầu hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế, xã Nhật Tân chỉ còn 6 thôn: An Trạch, Cao Đoài, Cao Đông, Phượng Tường, Linh Hạ và Phù Oanh. Ba thôn kia lập thành xã Trung Nghĩa.
Từ đó, nhân dân Nhật Tân đoàn kết một lòng trong chiến đấu và sản xuất để bảo vệ và xây dựng quê hương [6, 5]. Ngày 26/01/1968 tỉnh Hưng Yên và Hải Dương hợp nhất thành tỉnh Hải Hưng. Xã Nhật Tân thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hải Hưng. Ngày 11/3/1977 hợp nhất huyện Tiên Lữ và huyện Phù Cừ thành huyện Phù Tiên.
Xã Nhật Tân thuộc huyện Phù Tiên, tỉnh Hải Hưng. —>—————— KS6-Việt Nam Học và Tiếng Việt 7 a Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị =—S=—== Thu Huyền :—._èễ—— Ngày 06/11/1996 tách tỉnh Hải Hưng thành 2 tỉnh Hưng Yên và Hải Dương theo địa giới hành chính cũ. Ngày 01/01/1997 tỉnh Hưng Yên được tái lập. Ngày 24/3/1997 tách huyện Phù Tiên thành 2 huyện Tiên Lữ và huyện Phù Cừ theo địa giới hành chính 20 năm trước.
Từ đó cho đến nay, xã Nhật Tân là 1 xã của huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Cư dân Nhật Tân hiện nay là người Việt cô, họ đã tới đây khai phá đất hoang, dựng làng xóm, lập làng từ khá sớm. Tính đến trước năm 1945 dân số toàn xã chỉ khoảng 2.276 nhân khẩu, thôn đông nhất là Linh Hạ có 712 nhân khẩu, thôn ít nhất là An Trạch chỉ có 399 nhân khâu. Sau khi thống nhất đất nước, khắc phục hậu quả chiến tranh và tập trung vào sản xuất, phát triển kinh tế thì dan cư không ngừng tăng: năm 1994 toàn xã có gần 6000 dân, 10 năm sau lên tới 8100 dân.
Dù thôn to hay thôn nhỏ, dù trong bất cứ một giai đoạn nào nhân dân đều nêu cao vai trò đoàn kết của làng trên, xóm dưới; họ đã giúp đỡ nhau trong lao động, cùng nhau đấu tranh với thiên nhiên khắc phục hạn hán, ngập lụt, trừ sâu bệnh để mang lại mùa màng bội thu. Từ bao đời nay, nhân dân Nhật Tân đã góp phan xây dap và kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, nên tính cộng đồng đạt đến một trình độ cao không những trong sản xuất mà còn đậm đà trong văn hóa dân gian. Họ sẵn lòng giúp đỡ nhau xây cất nhà cửa và cùng nhau dựng miếu, lập đình thờ chung Thành hoảng và những vị có công với dân với nước. Bao đời nay, gái thôn này lấy trai thôn khác tô đậm thêm tình cảm xóm giềng và quan hệ anh em họ mạc, xây dựng nên thuần phong mỹ tục ở hương thôn.
Những việc cưới xin, ma chay họ đều chia sẻ và giúp đỡ nhau trong cuộc sống thường ngày. Giá trị văn hóa đó đậm đà trên cả đồng ruộng hay mỗi xóm làng ở Nhật Tân, lời ca tiếng hát vang lên với những làn điệu dân ca quen thuộc như hát chèo, điệu cò lả, hát trống quân.tất cả để ngợi ca cuộc sống của người lao động. Trong nhân dân còn sáng tác ra biết bao thơ ca, hò, vè, ca dao đả kích Vào thói hư tật xấu trong xã hội, chế nhao sự đua đòi của của một số người —— EƑEE555EỄ>ễễễỄễỄễỄ KS6-Việt Nam Học và Tiếng Việt 8 Kh óa luậ n tốt ngh iệp Vũơơ Thị ơơ Th ơơ u ng Hu ơơ yề nn n ớ.-‹-ớớờờợ ẶẶ ẫẳ ễm ờờ ợ/ gg da as ơơ .ẳẳỶẳẳ trong bộ máy chính quyền phong kiến: “Lý chợ Chùa như cua tháng sảu- Cựu Linh Hạ như ra tháng Mười?" [6, 12]. Nhân dân Nhật Tân từ ngàn xưa vẫn có tiếng là hiếu học vào loại nhất nhì trong vùng.
Ở Phượng Tường, Cao Đông, Cao Doai trước kia còn có ruộng cấp cho những người đỗ đạt cao, để khuyến khích việc học hành trong hương thôn. Tương truyền, vào đời nhà Lê ở Phượng Tường có tới 8 vị đỗ đạt cao, có vị đỗ tới bậc tiến sĩ thời ấy đó là Tiến Sĩ Nguyễn Quang, làm quan đến chức Thiêm Sự, người làng Linh Hạ. Tuy nhiên, đại bộ phận nhân dân chưa có điều kiện tới các trường làng học, họ học hỏi lẫn nhau theo lối “truyền khẩu” để tiếp thu kinh nghiệm sản xuất và điều hay lẽ phải, sáng lên những điều nhân nghĩa của đạo làm người để ăn ở trọn vẹn với làng, với nước. Cư dân nơi đây cũng sáng tạo cho mình những món ăn đặc sản mà chỉ cần nhắc tới là ai cũng biết: “Đi thì nhớ vợ cùng con Về nhà lại nhớ ếch om Phượng Tường” Câu ca dao trên lưu truyền từ lâu đời chứng tỏ là món ăn dân dã nhưng đã được nâng lên mức nghệ thuật trong âm thực.
Éch om Phượng Tường- cái tên nghe sang trọng và đầy hấp dẫn ấy xuất phát từ một vùng nông thôn của tỉnh Hưng Yên: Làng Phượng Tường, xã Nhật Tân, Huyên Tiên Lữ.