Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa đối với đời sống cư dân xã Nhật Tân, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên" được tác giả Vũ Thị Thu Huyền thực hiện năm 2015 tại Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Thị Vân Chi.

Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước là chủ trương xuyên suốt được khẳng định từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm nhằm phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Tại tỉnh Hưng Yên — một địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ — quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn diễn ra nhanh chóng thông qua việc quy hoạch hạ tầng giao thông và các khu, cụm đô thị - đại học.

Xã Nhật Tân là một xã thuần nông nằm ở phía Bắc huyện Tiên Lữ, cách thành phố Hưng Yên 7 km. Từ năm 2011, địa phương trở thành địa bàn trọng điểm khi cùng lúc triển khai hai dự án hạ tầng và giáo dục quy mô lớn: Tuyến đường bộ nối đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình và Dự án xây dựng cơ sở mới Trường Đại học Thủy Lợi (thuộc Khu đô thị Đại học Phố Hiến). Việc thu hồi diện tích lớn đất canh tác đã tạo ra những biến đổi sâu sắc, toàn diện trên các phương diện kinh tế, văn hóa và cấu trúc xã hội địa phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các khái niệm, cơ sở lý luận về CNH, HĐH và chủ trương của Đảng, Nhà nước cũng như của tỉnh Hưng Yên về phát triển kinh tế - xã hội.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng các tác động trực tiếp của CNH, HĐH đối với đời sống cư dân xã Nhật Tân, trọng tâm là quá trình thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và xây dựng cơ sở hạ tầng.
  3. Đánh giá những biến đổi trong đời sống cư dân trên các khía cạnh diện mạo vật chất, cơ cấu kinh tế, cơ cấu dân cư, việc làm, thu nhập và lối sống văn hóa; nhận diện những vấn đề tiêu cực phát sinh.
  4. Đưa ra dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của xã đến năm 2020 và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển bền vững tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Xã Nhật Tân, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên trong tiến trình CNH, HĐH.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Nhật Tân với 6 thôn: An Trạch, Cao Đoài, Cao Đông, Linh Hạ, Phù Oanh và Phượng Tường.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát trọng tâm từ năm 2011 đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2015), có liên hệ đối sánh với các giai đoạn lịch sử trước đó (trước 1986 và 1986–2011).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng khung lý thuyết và văn bản định hướng phát triển của ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn:

  • Khái niệm công nghiệp hóa theo định nghĩa của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VII: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng công nghệ, phương tiện tiên tiến nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
  • Quyết định số 999/QĐ-TTg ngày 10/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng Khu đại học Phố Hiến tại tỉnh Hưng Yên; các chỉ thị, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hưng Yên và huyện Tiên Lữ giai đoạn 2010–2020.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp nghiên cứu tư liệu thứ cấp với điền dã thực địa định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Khai thác văn bản lưu trữ địa phương, các báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2005–2010 và 2010–2015) của UBND xã Nhật Tân; số liệu từ Báo cáo hội thảo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007) về nông dân bị thu hồi đất; lịch sử Đảng bộ địa phương.
  • Phương pháp điền dã thực địa, nghiên cứu định tính và định lượng: Tiến hành khảo sát thực địa tại 6 thôn của xã; phỏng vấn sâu cán bộ địa chính xã (ông Nguyễn Văn Tuấn) và người dân thuộc các nhóm đối tượng khác nhau (hộ gia đình làm mộc, thợ nề, phụ nữ nông nhàn, người cao tuổi, thanh niên trong độ tuổi lao động); thống kê, phân loại dữ liệu hiện trạng sử dụng đất và mức sống hộ gia đình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về xã Nhật Tân

Chương này tập trung mô tả điều kiện tự nhiên, tiến trình lịch sử, thiết chế hành chính, kinh tế truyền thống và đời sống sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư dân Nhật Tân.

Về vị trí và tự nhiên: Xã Nhật Tân nằm ở phía Bắc huyện Tiên Lữ, tiếp giáp các xã Hưng Đạo, An Viên, Ngô Quyền, Dị Chế (huyện Tiên Lữ), xã Trung Nghĩa (thành phố Hưng Yên) và xã Hiệp Cường (huyện Kim Động). Xã có tuyến đường liên tỉnh 39B dài gần 3 km chạy qua phía Nam và hệ thống sông Hòa Bình (dài 2,5 km), sông Điện Biên (dài 2 km) phục vụ tiêu thoát nước. Địa hình trũng thấp dần từ Bắc xuống Nam và Tây sang Đông, khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng với lượng mưa trung bình 1.680–1.730 mm/năm. Đất đai chủ yếu là đất phù sa không được bồi đắp hàng năm, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình.

Về lịch sử và dân cư: Trước năm 1945, xã gồm 5 thôn thuộc tổng Cao Cương, dân số 2.276 người. Trải qua các giai đoạn sáp nhập thành lập xã Đầu Sơn, xã Minh Tân (năm 1946) và đổi tên thành xã Nhật Tân (năm 1948), đến năm 1956 địa giới hành chính được chia tách ổn định gồm 6 thôn: An Trạch (Làng Lựa), Cao Đoài (Làng Nắng), Cao Đông (Chợ Chùa), Linh Hạ (Làng Sành), Phù Oanh và Phượng Tường. Dân số địa phương tăng từ gần 6.000 người (năm 1994) lên 8.100 người (năm 2004). Không gian cư trú cấu trúc theo làng, xóm, ngõ với tính liên kết dòng họ bền chặt (làng An Trạch gồm 7 dòng họ; làng Cao Đoài có 5 dòng họ).

Về kinh tế truyền thống: Trước năm 1986, kinh tế mang tính tự cung tự cấp, 90% diện tích chỉ cấy một vụ bấp bênh, năng suất lúa đạt 50–60 kg/sào Bắc Bộ. Giai đoạn hợp tác hóa (thành lập HTX Phù Oanh năm 1958, đến năm 1960 có 9 HTX với 850 hộ tham gia) và sau khi đưa trạm bơm Linh Hạ vào vận hành (năm 1967), địa phương chuyển đổi sang thâm canh 2 vụ lúa và 1 vụ đông, năng suất vượt 5 tấn/ha. Thời kỳ bao cấp sau năm 1975, sản xuất suy giảm, năng suất còn 2,5–3 tấn/ha. Sau đổi mới năm 1986, kinh tế hộ gia đình được phục hồi; tổng diện tích gieo trồng cây lương thực đạt 345 ha trên tổng số 385 ha đất canh tác, năng suất bình quân đạt 120 tạ/ha. Hoạt động trao đổi hàng hóa tập trung ở chợ Chùa (họp định kỳ các ngày chẵn) và các chợ làng.

Về văn hóa tín ngưỡng: Cả 6 thôn đều có chùa Phật giáo (Linh Quang Tự, Thanh Quang Tự, Phúc Quang Tự, Bảo Quang Tự, Phượng Quang Tự, Từ Quang Tự). Thôn Cao Đoài còn bảo tồn ngôi đình cổ thờ Triệu Việt Vương (Triệu Quang Phục). Hàng năm, xã duy trì hai lễ hội lớn: Lễ hội Phủ Bà tại thôn Cao Đông (từ ngày 15 đến 17 tháng 3 âm lịch, thờ Bát Nạn Đông Nhung Đại tướng quân Vũ Thị Thục) và hội làng thôn Linh Hạ (mồng 5 đến mồng 6 tháng Giêng, rước thần ra văn chỉ thờ Khổng Tử). Địa phương có nghệ thuật ẩm thực dân gian đặc sắc với món ếch om Phượng Tường.

Chương 2: Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với đời sống cư dân xã Nhật Tân

Nội dung chương 2 phân tích các tác động trực tiếp của CNH, HĐH đối với địa phương thông qua hai dự án đầu tư xây dựng lớn, quá trình thu hồi đất, quy hoạch hạ tầng và các xung lực kinh tế mới.

Về các dự án trọng điểm trên địa bàn:

  1. Dự án tuyến đường bộ nối cao tốc Hà Nội - Hải Phòng với cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình (đoạn qua Hưng Yên dài 25 km, quy chuẩn đường cấp II đồng bằng, tổng mức đầu tư trên 3.372 tỷ đồng, thời gian thi công 2011–2015).
  2. Dự án cơ sở mới Trường Đại học Thủy Lợi tại Khu đô thị Đại học Phố Hiến (diện tích quy hoạch đến năm 2020 là 80,33 ha; giai đoạn 1 từ 2011–2016 triển khai 56,35 ha; giai đoạn 2 từ sau năm 2016 là 23,98 ha).

Về công tác giải phóng mặt bằng và thu hồi đất: Tổng diện tích đất bị thu hồi phục vụ hai dự án trên địa bàn xã Nhật Tân là 262.362,60 m² (khoảng 26,24 ha).

  • Dự án đường nối cao tốc thu hồi 143.942,40 m² đất liên quan đến 307 hộ đất nông nghiệp và hơn 40 hộ đất ở thuộc 4 thôn qua 5 đợt giải phóng mặt bằng: thôn An Trạch (36.891 m²), thôn Cao Đoài (53.431 m²), thôn Cao Đông (2.638 m²), thôn Linh Hạ (50.981 m²).
  • Dự án Đại học Thủy Lợi thu hồi 110.310 m² đất nông nghiệp và đất ở liên quan đến 122 hộ đất nông nghiệp và 15 hộ đất ở thuộc 2 thôn: Phù Oanh (30.770 m²) và Phượng Tường (79.540 m²).

Sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất của xã Nhật Tân giữa hai mốc thời gian 2006 và 2014 được tác giả thống kê cụ thể:

Loại đất Tỷ lệ năm 2006 (%) Tỷ lệ năm 2014 (%)
Đất sản xuất nông nghiệp 70,0 63,0
Trong đó: Đất trồng cây hàng năm (lúa) 67,0 58,0
Đất trồng cây lâu năm 2,7 4,6
Đất nuôi trồng thủy sản 3,2 3,4
Đất phi nông nghiệp - -
Trong đó: Đất chuyên dùng 14,4 20,4

Về hạ tầng và kích thích kinh tế: Xã vận động người dân hiến đất, mở rộng mạng lưới đường liên thôn, đấu nối trực tiếp vào Quốc lộ 39B; xây mới trụ sở Đảng ủy - HĐND - UBND xã, trường tiểu học, trạm y tế. Dòng tiền bồi thường đất đai đổ về địa phương tạo nguồn lực tài chính lớn: Dự án đường cao tốc chi trả 32 tỷ đồng cho 307 hộ (đơn giá bồi thường 90 triệu đồng/sào); Dự án Đại học Thủy Lợi chi trả 29 tỷ đồng (đơn giá 102 triệu đồng/sào). Mức đền bù dao động từ 20 triệu đồng đến 510 triệu đồng/hộ. Ngoài ra, sự xuất hiện của 280 công nhân xây dựng tạm trú đã phát sinh nguồn thu dịch vụ cho thuê nhà trọ đạt 1,5–2 triệu đồng/tháng/phòng (cho nhóm 3–4 người). Nguồn thu từ ngành nghề phụ và dịch vụ thương mại của toàn xã đạt 22–25 tỷ đồng/năm.

Chương 3: Sự thay đổi trong đời sống cư dân xã Nhật Tân dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương 3 đi sâu đánh giá các phương diện chuyển biến xã hội, mức sống, việc làm, văn hóa và nhận diện các vấn đề tiêu cực phát sinh từ thực tế CNH, HĐH.

Về biến đổi mức sống hộ gia đình và thiết chế văn hóa: Tỷ lệ phân hóa mức sống tại xã Nhật Tân trong giai đoạn 2007–2014 có sự dịch chuyển rõ nét:

Phân loại hộ gia đình Năm 2007 (%) Năm 2014 (%)
Hộ nghèo 10,0 3,0
Hộ khá và trung bình 69,0 70,0
Hộ giàu 21,0 27,0

Đến năm 2014, xã có 6/6 thôn đạt danh hiệu làng văn hóa; 90% số hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa. Tháng 4/2015, xã Nhật Tân được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Việc cưới, tang được tổ chức tiết kiệm, gọn nhẹ. Hai lễ hội truyền thống được phục dựng và duy trì nền nếp (Lễ hội Phủ Bà khôi phục năm 2007, hội làng Linh Hạ khôi phục năm 2012). Tỷ lệ tiếp cận công nghệ thông tin tăng nhanh: 95% người dân sử dụng điện thoại di động, 80% hộ gia đình dùng truyền hình cáp/kỹ thuật số, 30% kết nối Internet.

Về những vấn đề tiêu cực và rủi ro nảy sinh:

  • Ô nhiễm môi trường sinh thái: Tình trạng lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật; chất thải chăn nuôi quy mô lớn chưa qua xử lý; rác thải sinh hoạt phát sinh bãi rác tự phát ven đường và nổi trên kênh mương. Quá trình thi công phát sinh khói bụi và tiếng ồn lớn (công trường đường cao tốc có 30 lượt xe tải/ngày; công trường Đại học Thủy Lợi có hơn 50 lượt xe tải/ngày). Đáng chú ý, dự án tuyến đường bộ nối hai cao tốc tạm dừng thi công từ tháng 3/2013 do khó khăn về vốn, dẫn tới việc hệ thống thủy lợi nội đồng chưa được hoàn trả, gây ra tình trạng khô hạn và úng cục bộ, cản trở canh tác.
  • Áp lực việc làm và phân hóa lao động theo độ tuổi: Việc thu hồi đất tác động trực tiếp đến gần 500 hộ gia đình. Lao động trẻ (18–30 tuổi, đặc biệt là lao động nữ) dễ dàng chuyển sang làm công nhân may, nhựa, inox tại Khu công nghiệp Phố Nối hoặc các doanh nghiệp lân cận. Ngược lại, nhóm lao động từ 35 tuổi trở lên gặp rào cản lớn về trình độ học vấn và sức khỏe, bị các xí nghiệp từ chối tiếp nhận, buộc phải xoay xở với công việc tự do bấp bênh (phụ hồ, trộn bê tông, làm mộc, chăn nuôi nhỏ lẻ). Một bộ phận người dân sử dụng tiền đền bù vào mua sắm tiêu dùng, xây dựng nhà cửa thiếu phương án kinh doanh, tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo.
  • Biến đổi lối sống và tệ nạn: Sự đề cao đồng tiền và tính thực dụng làm suy giảm tính cố kết làng xóm; các quán Internet xuất hiện nhanh chóng trở thành tụ điểm chơi trò chơi điện tử bạo lực của thanh thiếu niên do thiếu sự giám sát từ gia đình.

Dự báo và giải pháp đến năm 2020:

  • Dự báo: Khi cơ sở Đại học Thủy Lợi vận hành (dự kiến cuối năm 2016), dự án sẽ phục vụ 13.400 sinh viên/học viên với 300 phòng học và 560 phòng ở ký túc xá cho 4.000 sinh viên nội trú, mở ra cơ hội kinh doanh dịch vụ ăn uống, nhà trọ quy mô lớn. Tuyến đường nối cao tốc khi hoàn thành sẽ đưa Nhật Tân thành đầu mối giao thương.
  • Nhóm giải pháp: Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao; tổ chức đào tạo nghề cho nông dân mất đất, thúc đẩy xuất khẩu lao động; hoàn thiện hạ tầng thủy lợi, nạo vét kênh mương và kiểm soát ô nhiễm môi trường; giữ gìn bản sắc văn hóa hương thôn trong quá trình đô thị hóa.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng chi tiết về tiến trình CNH, HĐH tại một xã nông thôn đồng bằng Bắc Bộ:

  • Về mặt số liệu: Cung cấp đầy đủ diện tích thu hồi đất (262.362,60 m²), phân kỳ thu hồi qua 5 đợt, số lượng hộ gia đình bị ảnh hưởng (307 hộ đường cao tốc, 122 hộ dự án đại học), tổng kinh phí bồi thường (32 tỷ đồng cho dự án đường nối cao tốc; 29 tỷ đồng cho dự án Đại học Thủy Lợi) và mức độ chuyển dịch cơ cấu đất canh tác giữa năm 2006 và 2014.
  • Về mặt nhận thức xã hội học: Khóa luận phản ánh khách quan tính hai mặt của CNH, HĐH nông thôn. Công trình chỉ rõ mặt tích cực trong việc nâng cao hạ tầng, tăng tỷ lệ hộ giàu (từ 21% lên 27%), giảm tỷ lệ hộ nghèo (từ 10% xuống 3%); đồng thời nhận diện chính xác các hệ lụy xã hội như sự đứt gãy sinh kế ở nhóm lao động trung niên (trên 35 tuổi), rủi ro ô nhiễm môi trường và xung đột giữa văn hóa truyền thống với lối sống tiêu dùng thực dụng.
  • Đóng góp khoa học: Công trình là nghiên cứu trường hợp (case study) điển hình của ngành Việt Nam học, khảo sát sự biến đổi nông thôn dưới tác động đồng thời của các dự án thu hồi đất phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng giáo dục.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế nghiên cứu:

  • Do khóa luận hoàn thành vào tháng 5/2015, hai dự án trọng điểm trên địa bàn đều chưa hoàn thiện (dự án đường nối hai cao tốc bị tạm ngừng thi công từ tháng 3/2013 do thiếu vốn; dự án Đại học Thủy Lợi mới xong giải phóng mặt bằng giai đoạn 1 và đang thi công hạ tầng, dự kiến năm 2016 mới vận hành). Vì vậy, các phân tích về sự xuất hiện của sinh viên và sự phát triển dịch vụ lưu trú mới chỉ dừng lại ở mức độ dự báo tiềm năng.
  • Địa bàn khảo sát tập trung chủ yếu trong phạm vi xã Nhật Tân, chưa mở rộng so sánh đối chiếu sâu với các xã lân cận cùng nằm trong ranh giới dự án như xã An Viên hay xã Dị Chế.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Khảo sát theo chiều dọc (longitudinal study) sau năm 2016 khi cơ sở Trường Đại học Thủy Lợi chính thức đi vào giảng dạy và tuyến đường nối hai cao tốc thông xe, nhằm kiểm chứng các tác động thực tế đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế dịch vụ và biến động dân cư ngoại lai.
  • Đánh giá tính bền vững về sinh kế của các hộ nông dân mất đất sau thời gian 5–10 năm nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Việt Nam học, Xã hội học, Văn hóa học, Địa lý phát triển và Quản lý đất đai khi tìm hiểu về phương pháp nghiên cứu điền dã thực địa, tác động xã hội của quá trình CNH, HĐH và biến đổi sinh kế nông thôn.
  • Cán bộ quản lý kinh tế - xã hội, địa chính cấp cơ sở tại các vùng chuyển đổi đất nông nghiệp sang phát triển đô thị - đại học, đặc biệt là kinh nghiệm quản lý giải phóng mặt bằng, bố trí việc làm cho lao động mất đất và xử lý các vấn đề đứt gãy hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

Hai dự án trọng điểm nào tác động trực tiếp đến việc thu hồi đất tại xã Nhật Tân trong giai đoạn 2011–2015?
Đó là Dự án xây dựng tuyến đường bộ nối cao tốc Hà Nội - Hải Phòng với cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình (vốn đầu tư hơn 3.372 tỷ đồng) và Dự án xây dựng cơ sở mới Trường Đại học Thủy Lợi thuộc Khu đô thị Đại học Phố Hiến (theo Quyết định số 999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).

Tổng diện tích đất bị thu hồi tại xã Nhật Tân và số tiền đền bù bồi thường cho cư dân là bao nhiêu?
Tổng diện tích đất thu hồi phục vụ hai dự án là 262.362,60 m². Tổng kinh phí bồi thường hỗ trợ cho 307 hộ dân thuộc dự án đường cao tốc là 32 tỷ đồng (90 triệu đồng/sào); kinh phí bồi thường cho các hộ thuộc dự án Đại học Thủy Lợi là 29 tỷ đồng (102 triệu đồng/sào). Mức đền bù cụ thể dao động từ 20 triệu đồng đến 510 triệu đồng/hộ.

Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại xã Nhật Tân thay đổi như thế nào từ năm 2006 đến năm 2014?
Tỷ lệ đất nông nghiệp giảm từ 70% xuống 63%, trong đó đất trồng cây hàng năm (lúa) giảm từ 67% xuống 58%. Ngược lại, đất trồng cây lâu năm tăng từ 2,7% lên 4,6%, đất nuôi trồng thủy sản tăng từ 3,2% lên 3,4% và đất chuyên dùng phi nông nghiệp tăng mạnh từ 14,4% lên 20,4%.

Việc chuyển đổi đất nông nghiệp tạo ra rào cản việc làm cụ thể nào cho nhóm lao động trung niên tại địa phương?
Người lao động từ 35 tuổi trở lên gặp rào cản lớn do các xí nghiệp, nhà máy ở Khu công nghiệp Phố Nối chỉ tuyển dụng lao động trẻ (18–30 tuổi). Nhóm lao động lớn tuổi bị từ chối do quá tuổi, trình độ văn hóa thấp và sức khỏe hạn chế, buộc phải làm công việc tự do bấp bênh (phụ hồ, trộn bê tông) hoặc quay lại chăn nuôi nhỏ lẻ với thu nhập không ổn định.

Dự án đường nối hai cao tốc tạm ngừng thi công từ tháng 3/2013 đã gây ra hậu quả trực tiếp gì cho sản xuất nông nghiệp của xã?
Việc tạm dừng thi công do thiếu nguồn vốn khiến nhiều công trình kỹ thuật chưa được di chuyển và hệ thống kênh mương thủy lợi nội đồng chưa được hoàn trả, dẫn tới tình trạng hạn hán và ngập úng cục bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến tưới tiêu phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Vũ Thị Thu Huyền đã phản ánh toàn diện bức tranh chuyển đổi kinh tế - xã hội tại xã Nhật Tân (Tiên Lữ, Hưng Yên) dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và việc thu hồi đất xây dựng hạ tầng. Công trình làm rõ sự cải thiện về diện mạo làng quê, cơ sở vật chất kỹ thuật và đời sống vật chất của cư dân thông qua các số liệu thống kê cụ thể. Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích sâu sắc các thách thức về môi trường ô nhiễm, đứt gãy thủy lợi nội đồng và áp lực chuyển đổi nghề nghiệp của lao động nông thôn trung niên. Khóa luận là tài liệu nghiên cứu trường hợp có giá trị khoa học và thực tiễn đối với lĩnh vực nghiên cứu nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới.