MỞ ĐẦU 1.1 Giới thiệu Chƣơng này cung cấp sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của báo cáo nghiên cứu tác động của công bằng thuế đến sự tuân thủ của ngƣời nộp thuế ở Việt Nam.2 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Chức năng chính của thuế là tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc. Một biện pháp để tăng nguồn thu này là hệ thống thuế phải đƣợc đối đãi công bằng với tất cả ngƣời dân (Huxham & Haupt, 1998). Thật quan trọng khi ngƣời nộp thuế cảm nhận đƣợc hệ thống thuế công bằng. Đây là điều quan trọng nhất, vì công bằng đƣợc xem nhƣ là động cơ cho sự tuân thủ thuế và là yếu tố quyết định sự hài lòng của ngƣời nộp thuế với sự hoàn trả từ chính phủ, từ đó dẫn đến sự tuân thủ của ngƣời nộp thuế (Cowel, 1990).
Vì vậy, chuyên đề nghiên cứu “Tác động công bằng thuế đến sự tuân thủ của người nộp thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” thực sự thiết thực và có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.3 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên cứu tác động của công bằng thuế đối với sự tuân thủ thuế ở Việt Nam, cụ thể là phân tích mối quan hệ giữa từng nhân tố công bằng thuế và sự tuân thủ thuế ở Việt Nam. Từ đó, xây dựng các quan điểm, định hƣớng trong chính sách, các giải pháp hoàn thiện công bằng thuế và sự tuân thủ của ngƣời nộp thuế ở Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Câu hỏi nghiên cứu Giải quyết câu hỏi nghiên cứu: Công bằng thuế ở Việt Nam có thể đƣợc đo lƣờng bởi 5 nhân tố: công bằng tổng quát (general fairness), sự trao đổi với chính phủ (exchange with government), cấu trúc thuế (tax structure), những điều khoản đặc biệt dành cho ngƣời giàu có (special provisions for the wealthy) và lợi ích cá nhân (self interest)? Tác động của từng nhân tố công bằng thuế đến sự tuân thủ thuế ở Việt Nam? 1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu Ý nghĩa của nghiên cứu là nghiên cứu xem tác động của công bằng thuế đến sự tuân thủ của ngƣời nộp thuế ở các nƣớc đã phát triển (nhƣ Mỹ, Canada…) có tƣơng tự với các nƣớc đang phát triển (nhƣ Việt Nam) hay không? Nghiên cứu đo lƣờng mức độ tác động công bằng thuế trong vai trò là một yếu tố quyết định đến hành vi tuân thủ thuế ở Việt Nam. Năm nhân tố công bằng thuế của Gerbing (1988) đƣợc khảo sát để tìm ra nhân tố nào tác động đến hành vi tuân thủ thuế.
Ngoài ra, sự khác biệt địa lý đƣợc xem nhƣ một đóng góp mới cho kiến thức về công bằng thuế và tuân thủ thuế của nghiên cứu này khi xem xét ở Việt Nam. Biết đƣợc ngƣời nộp thuế cảm thấy tác động của hệ thống thuế nhƣ thế nào là công bằng, sẽ giúp cho cơ quan thuế trong việc lập kế hoạch cho một chiến lƣợc nhằm đạt đƣợc sự tuân thủ tốt hơn của ngƣời nộp thuế ở Việt Nam.6 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu này chỉ giới hạn xem xét hành vi tuân thủ của ngƣời nộp thuế là cá nhân. ngƣời nộp thuế cá nhân bao gồm những ngƣời làm công ăn lƣơng làm việc trong cơ quan nhà nƣớc, khu vực tƣ nhân hoặc tự kinh doanh. Nhƣ đã đề LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cập trƣớc đây có rất nhiều yếu tố quyết định đến không tuân thủ thuế đƣợc ghi trong lý thuyết tuân thủ thuế.
Tuy nhiên, đối tƣợng của nghiên cứu này là kiểm tra mức độ ảnh hƣởng công bằng thuế đến hành vi tuân thủ thuế. Mức độ này đƣợc đo lƣờng bằng cảm nhận của ngƣời nộp thuế trên các nhân tố tuân thủ thuế và hành vi tuân thủ của họ. Đánh giá của ngƣời nộp thuế có thể có ích cho cơ chế hoạt động của cơ quan thuế và cơ quan lập pháp.7 Kết cấu của luận văn Chƣơng 1. Chƣơng này sẽ thảo luận lý do tại sao cơ quan thuế nhấn mạnh sự tuân thủ thuế và tầm quan trọng của thuế trong phát triển đất nƣớc.
Lý thuyết tổng quan về tác động của công bằng thuế đến sự tuân thủ của ngƣời nộp thuế. Chƣơng này sẽ xem xét lý thuyết công bằng thuế và lý thuyết tuân thủ thuế, nhấn mạnh đến tác động của cảm nhận công bằng thuế nhƣ là một đóng góp cho sự tuân thủ thuế. Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng này sẽ chấp nhận phƣơng pháp đƣợc sử dụng bởi các nhà nghiên cứu trƣớc đây và áp dụng nó vào bối cảnh Việt Nam để xem xét sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu. Chƣơng này sẽ thảo luận những phát hiện đối với những câu hỏi nghiên cứu và giả thiết. Thảo luận và kiến nghị. Chƣơng này sẽ thảo luận kết luận rút ra từ kết quả của nghiên cứu.
Cuối cùng là hàm ý của nghiên cứu và hƣớng nghiên cứu sắp tới và một số kiến nghị để cơ quan thuế đạt đƣợc sự tuân thủ cao và đạt đƣợc mức độ quản lý thuế hiệu quả hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Chƣơng 2 LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BẰNG THUẾ ĐẾN SỰ TUÂN THỦ CỦA NGƢỜI NỘP THUẾ 2.1 Giới thiệu Chƣơng này sẽ đƣa ra một lời giải thích toàn diện về hệ thống thuế ở Việt Nam, lý thuyết công bằng thuế, lý thuyết tuân thủ thuế, tác động của cảm nhận công bằng thuế đến sự tuân thủ thuế, các nhân tố của công bằng thuế và tác động của từng nhân tố đến sự tuân thủ thuế.2 Lý thuyết công bằng thuế Định nghĩa công bằng là rất khó khăn và một số ngƣời cho rằng không thể xác định đƣợc. Phán quyết một quy định hay một hành động có công bằng hay không là khá chủ quan. Công bằng là một yêu cầu rất quan trọng trong việc xây dựng luật thuế.
Tính công bằng của luật thuế thể hiện ở hai mặt pháp lý và kinh tế. Theo các nhà kinh tế, tính công bằng của thuế đƣợc xem xét ở hai khía cạnh, công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc. Công bằng theo chiều ngang là các đối tƣợng có tình trạng và khả năng nộp thuế ngang nhau thì phải đƣợc đối xử về thuế nhƣ nhau. Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử về thuế khác nhau đối với các đối tƣợng có tình trạng và khả năng đóng thuế khác nhau.
Tính công bằng thuế còn đƣợc các nhà kinh tế xem xét ở khía cạnh khả năng đóng thuế, lợi ích của ngƣời nộp thuế. Theo quan niệm này, công dân chỉ đóng thuế theo tỉ lệ tƣơng ứng với những lợi ích mà họ nhận đƣợc từ Nhà nƣớc và họ chỉ đóng thuế theo khả năng của họ. Xét ở khía cạnh lý luận, những quan điểm này rất hợp lý và thể hiện quan điểm nhân văn cũng nhƣ dân chủ của chính sách thuế, tránh đƣợc tình trạng tận thu thuế, cũng nhƣ đòi hỏi Nhà nƣớc phải LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 chú ý đến việc cung cấp các lợi ích công cộng tƣơng ứng với sự đóng góp của nhân dân. Tuy nhiên trên thực tế, có một số khó khăn khi vận dụng các quan điểm này.
Xuất phát từ sự hoàn trả không trực tiếp của thuế, rất khó để cân đong đo đếm xem một ngƣời có nhận đƣợc những lợi ích công cộng tƣơng đƣơng với sự đóng góp của họ hay không. Ở những trƣờng hợp mà mục tiêu của thuế là nhằm điều tiết thu nhập, rút ngắn khoảng cách giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo thì việc xác định mức độ tƣơng thích giữa sự đóng góp và lợi ích nhận đƣợc này còn phải đƣợc phân tích kỹ lƣỡng hơn vì một số lợi ích công cộng mà ngƣời giàu nhận đƣợc từ Nhà nƣớc sẽ khác so với một số lợi ích mà ngƣời nghèo đƣợc hƣởng. Hoặc có một số lợi ích giống nhau nhƣng ngƣời giàu sẽ có điều kiện để hƣởng nhiều hơn và ngƣợc lại. Áp dụng việc đánh thuế dựa trên khả năng đóng thuế của ngƣời dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn đối với các quốc gia mà ở đó Nhà nƣớc không thể quản lý đƣợc tất cả các nguồn thu nhập (chính thức, không chính thức) của ngƣời dân.
Về mặt pháp lý, pháp luật Việt Nam luôn luôn hƣớng đến sự công bằng, bình đẳng. Nguyên tắc này cũng đƣợc công nhận trong Hiến pháp Việt Nam. Theo đó mọi cá nhân đều bình đẳng trƣớc pháp luật, không bị phân biệt đối xử. Nguyên tắc công bằng này đƣợc đảm bảo bằng việc gắn chặt chính sách thuế với chế độ dân chủ và Nhà nƣớc pháp quyền.3 Thƣớc đo công bằng thuế Ngƣời ta thƣờng đo lƣờng công bằng thuế thông qua mức độ công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang.
Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử về thuế khác nhau đối với các đối tƣợng có tình trạng và khả năng đóng thuế khác nhau (Erich và cộng sự, 2006). Điều này sẽ dẫn đến ngƣời có thu nhập cao nộp thuế ở mức thuế cao hơn so với ngƣời thu nhập thấp. Công bằng theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 chiều dọc đƣợc đánh giá dựa trên khả năng chi trả và sự ƣa thích cấu trúc thuế (thuế tỷ lệ hay thuế lũy tiến). Công bằng theo chiều ngang là các đối tƣợng có tình trạng và khả năng nộp thuế ngang nhau thì phải đƣợc đối xử về thuế nhƣ nhau.
Hai nhân tố công bằng này bắt nguồn từ lý thuyết công bằng phân phối. Lý thuyết này khẳng định một hệ thống đƣợc xem là công bằng thì nó cần phải đối xử với những ngƣời trong hoàn cảnh tƣơng tự theo một cách tƣơng đƣơng, không bỏ qua những nhu cầu cá nhân. Nói cách khác, lý thuyết cho thấy có sự tƣơng quan giữa các nhân tố công bằng với cảm nhận công bằng trong hệ thống thuế. Các nhân tố công bằng khác bao gồm công bằng chung, lợi ích cá nhân, công bằng cấu trúc thuế, các điều khoản đặc biệt, công bằng trao đổi (Gilligan và Richardson, 2005; Richardson, 2005a; Christensen và Weichrich, 1996; Christensen và cộng sự, 1994; Gerbing, 1988).1 Lý thuyết công bằng Lý thuyết công bằng cho rằng cá nhân quyết định công bằng hay không dựa trên kết quả, và họ tin rằng những ƣu đãi và hình phạt sẽ đƣợc phân phối phù hợp tƣơng ứng với sự đóng góp (Bobek, 1997).
Ngoài ra, lý thuyết công bằng thừa nhận cá nhân sẽ tuân thủ quy định hơn nếu họ cảm nhận họ đang đƣợc đối xử công bằng. Trong thuật ngữ đơn giản, lý thuyết công bằng liên quan đến công bằng trao đổi.