Chương 1: Cơ sở lý luận về chuyên đổi số và tác động của chuyên đổi số tới doanh nghiệp lữ hành Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Bàn luận và khuyến nghị 13 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHUYEN DOI SỐ VA TÁC DONG CUA CHUYEN DOI SO TOI DOANH NGHIEP LU HANH 1. Khái niệm Chuyển đỗi số và các khái niệm liên quan Chuyên đôi số là một khái niệm có nhiều quan niệm khác nhau vé nó. Như đã trình bày ở trên, chuyên đổi số là một lĩnh vực nghiên cứu mới, mặc dù đã manh nha từ lâu song thực tế các nghiên cứu chưa gọi tên vấn đề này thành một thuật ngữ cụ thể để nghiên cứu cho tới khoảng dưới 10 năm trở lại đây. Trong giai đoạn đầu, chủ yếu các nhà khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ thông tin và việc sử dụng công nghệ đối với doanh nghiệp.
Các nghiên cứu tong quan và có tính định hướng cho các học giả trên toàn thé giới cũng xuất hiện từ khoảng những năm 2018, điều này cho thấy sự mới mẻ của lĩnh vực chuyền đổi số. Trong quá trình nghiên cứu về khái niệm chuyên đổi số, tác giả đã tông hợp được các khái niệm được công bố trên các tạp chi hang đầu. Có 3 thuật ngữ chính được sử dụng trong nghiên cứu về chuyên đổi số bao gồm: Digitization (số hoá đữ liệu), Digitalization (số hoá quy trình) và Digital Transformation (chuyên đổi số). Trên thực tế tại thế giới cũng như Việt Nam, 3 thuật ngữ này thường được sử dụng một cach không rõ rang, thường được coi là có ý nghĩa như nhau, chỉ sự số hoá.
Tuy nhiên 3 thuật ngữ trên khi được phân tích cụ thể thì có những nét nghĩa khác khau. Sự khác biệt này thực sự được rõ ràng hoá khi Peter C. Verhoef và cộng sự xếp chúng vào một chu trình chuyên đổi số chung, theo đó có 3 giai đoạn trong quá trình chuyên đôi sô: 14 Sơ đồ 1.: Các giai đoạn chuyển đối số SỐ HOÁ DỮ SỐ HOÁ LIỆU QUY TRÌNH (Nguồn: Peter C. Verhoef và cộng sự) Tác giả đánh gia cao nghiên cứu của Peter C.
Verhoef va cộng sự, theo đó, quá trình chuyền đổi số bao gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Số hoá dữ liệu Giai đoạn 2: Số hoá quy trình Giai đoạn 3: Chuyên đổi số Ngoài ra, hầu hết các công trình hiện hành nghiên cứu về chuyền đổi số đã công bồ tới thời điểm hiện tại đều cho rang hai giai đoạn đầu tiên là cần thiết và mang tính tiên quyết dé đạt được giai đoạn chuyền đổi số [74, tr.1 Số hoá dữ liệu Số hoá đữ liệu là giai đoạn đầu tiên trong chu trình chuyển đổi số của doanh nghiệp. Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Anh Oxford (OED), thuật ngữ “số hóa dữ liệu” có thé được bắt nguồn từ những năm 1950 kết hợp với máy tinh là “hành động hoặc quá trình số hóa; chuyển đổi dữ liệu tương tự (đặc biệt là sau này sử dụng hình ảnh, video và văn bản) thành dạng kỹ thuật số" [70]. Verhoef và cộng sự cho răng: Số hóa là mã hóa thông tin tương tự thành định dạng kỹ thuật số (tức là thành số 0 và số 0) để máy tính có thể lưu trữ quá trình và truyền thông tin đó Thông thường, số hóa chủ yếu số hóa các quy trình tài liệu nội bộ và bên ngoài, nhưng không thay đổi các hoạt động tao ra giá tri [74, tr. Các nghiên cứu của Agarwal và cộng sự (2010) [I5]; Anderson & Agarwal (2011) [16]; Davison và Ou (2017) [30]; Matt và cộng sự (2015) [64]; Golzer và Fritzsche (2017) [39]; Li va cộng sự (2016) [54] cũng có chung quan điểm về số hoá dit liệu: Số hoa dit liệu là chuyên đổi các dit liệu dạng vật lý sang dữ liệu số.
Quá trình số hoá là một quá trình diễn ra từ rất sớm khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 bùng nổ vào những năm 1960. Cuộc cách mang này còn được biết đến với cái tên “Cách mạng khoa học - công nghệ”, và được xem là Cách mang máy tính (hay cách mạng số), bởi nó được phát triển từ sự phát minh của chất bán dẫn, một phát minh quan trọng bậc nhất bấy giờ. Cuộc cách mạng này đánh dấu sự ra đời của đời của các dây chuyền sản xuất tự động hoá dựa trên máy tính, thiết bị điện tử và Internet khởi nguồn từ việc phát minh ra các bóng bán dẫn với khả năng lưu trữ dữ liệu. Kê từ khi con người tạo ra những bit dữ liệu đầu tiên cùng với sự xuất hiện của máy tính cá nhân (1970 - 1980) và mạng Internet (những năm 1990), cho đến nay đã có hàng tỷ ty byte dữ liệu được ghi lại.
Nghiên cứu chi ra răng, nếu bình quân mỗi chiếc máy tính cá nhân lưu trữ được 500 GB dữ liệu thì cần tới 20 tỷ chiếc máy tính dé lưu trữ toàn bộ dữ liệu trên thé giới [79]. Số hoá dữ liệu đã giải phóng một lượng lớn vật liệu, không gian lưu trữ cho con người. Đối với các doanh nghiệp, tổ chức nếu như trước đây phải lưu trữ hàng nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn đầu tài liệu bằng phương pháp truyền thống băng giấy và những kho văn thư lớn thì với số hoá dữ liệu, chi những văn bản quan trọng mới cân lưu trữ, phân lớn có thê sô hoá va lưu trữ 16 trên các thiết bị số. Ngoài ra, số hoa dit liệu cũng mang tới một lợi ích quan trọng khác, là khả năng quản lý đữ liệu.
Nhờ có quy trình số quá, việc sắp xếp, quản lý, tìm kiếm thông tin của doanh nghiệp trở nên dé dàng hơn rat nhiều. Chang hạn một doanh nghiệp lữ hành muốn tìm kiếm lại thông tin của một đoàn khách họ phục vụ từ 10 năm trước, nếu không có số hoá dé liệu thì đó là một công việc hết sức khó khăn và tốn nhiều nhân lực, thời gian dé thực hiện; tuy nhiên với số hoá dit liệu, 1 người quan ly dit liệu có thé tìm kiếm ngay lại tất cả các thông tin liên quan chỉ trong một vài phút. Như vậy số hoá dữ liệu tiết kiệm lượng lớn chi phí vận hành cho doanh nghiệp [83]. Số hoá mặc dù là giai đoạn đầu tiên, sơ khai của tiễn trình chuyển đổi số song có ý nghĩa rất to lớn, là bước tiên quyết đề các doanh nghiệp, tô chức có thé bước tới giai đoạn tiếp theo.
Có thé hiểu một cách khác, dữ liệu số - sản phẩm của giai đoạn số hoá đữ liệu, chính là nguyên liệu đầu vào cho các giai đoạn sau của quá trình chuyên đổi số. Số hoá quy trình Số hoá quy trình (Digitalization) và số hoá dữ liệu (Digitization) thường được sử dụng chung trong rất nhiều văn bản tại Việt Nam là “số hoá”. Tuy nhiên, số hoá quy trình chỉ một hoạt động khác biệt so với số hoá đữ liệu. Rachinger và cộng sự (2018) cho rằng số hoa dit liệu là khuôn khổ để số hóa số hoá quy trình, được định nghĩa là khai thác các cơ hội kỹ thuật SỐ; Số hóa quy trình bằng cách kết hợp các công nghệ khác nhau (ví dụ: công nghệ đám mây, cảm biến, dữ liệu lớn, in 3D.) mở ra những kha năng không lường trước được và cung cấp tiềm năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ hoàn toàn mới.
Thuật ngữ “số hóa quy trình” (digitalization) được định nghĩa theo từ điển Oxford là “việc áp dụng hoặc tăng cường sử dụng công nghệ kỹ thuật số hoặc máy tính của một tô chức, ngành công nghiệp, quốc gia, v. Dựa trên định nghĩa OED này, có thé hiểu “số hóa” là “quá trình vật chất chuyển 17 đổi các luồng thông tin tương tự riêng lẻ thành các bit kỹ thuật số” và họ hiểu số hóa là “cách mà nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội được tái cấu trúc xung quanh cơ sở hạ tầng truyền thông và truyền thông kỹ thuật số” [82]. Jun Li và cộng sự (2009) định nghĩa số hóa quy trình kinh doanh là một hệ thống thông tin toàn doanh nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ của Internet tác động tới các khía cạnh khác nhau của các hoạt động và quy trình của tô chức. Theo Brennen và Kreiss (2016), Số hóa quy trình là việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số dé thay đổi mô hình kinh doanh và cung cấp các cơ hội sản xuất doanh thu và giá trị mới.
Ngoài ra số hoá quy trình cũng có thể hiểu là việc áp dụng hoặc tăng cường sử dụng công nghệ kỹ thuật số hoặc thiết bị công nghệ của một tô chức, ngành công nghiệp, quốc gia, v. Quan điểm này cũng tương đồng với Leviakangas (2016) [53] khi cho rằng số hoá quy trình là việc thay đổi quy trình hoạt động của doanh nghiệp bằng cách thêm vào các công nghệ thông tin. Theo Harry Bouwman và cộng sự (2018), số hoá quy trình có tác động tới làm đổi mới mô hình kinh doanh của doanh nghiệp. Đổi mới mô hình kinh doanh có thé có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh vì nó có thể cho phép các công ty phát triển lợi thế cạnh tranh [24].
Verhoef và cộng sự cũng có quan điểm tương tự rang: Số hóa quy trình mô tả cách công nghệ thông tin được sử dụng dé thay đổi các quy trình kinh doanh hiện có. Vi dụ, việc tao ra các kênh liên lạc trực tuyến hoặc di động mới cho phép tất cả khách hàng dễ dàng kết nối với các công ty và thay đổi tương tác giữa công ty và khách hàng truyền thống. Trong số hóa quy trình, công nghệ thông tin đóng vai trò là yếu tố quan trọng dé nắm bắt các khả năng kinh doanh mới bằng cách thay đổi các quy trình kinh doanh hiện có, chăng hạn như truyền thông, phân phối hoặc quản lý quan hệ kinh doanh. Thông qua số hóa quy trình các công ty áp dụng các công nghệ kỹ thuật số dé 18 tối ưu hóa các quy trình kinh doanh hiện có bằng cách cho phép phối hợp hiệu quả hơn giữa các bộ phận trong quy trình kinh doanh của doanh nghiệp và tạo thêm giá trị thông qua việc nâng cao trải nghiệm khách hàng.
Như vậy, số hóa không chi tập trung vao tiết kiệm chi phí, mà còn bao gồm các cải tiến quy trình có thể nâng cao trải nghiệm của khách hàng [74].