Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chƣơng đầu tiên, tác giả trình bày tổng quát về nghiên cứu bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu của khóa luận. Cuối cùng, nêu lên những ý nghĩa thực tiễn của đề tài có thể áp dụng trong tƣơng lai. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan Tác giả trình bày khái quát những lý thuyết liên quan đến cho thuê tài chính và hiệu quả tài chính. Đồng thời sơ lƣợc tổng quan tình hình và kết quả của các 6 nghiên cứu liên quan.
Từ đó, nêu ra đƣợc những khoảng trống nghiên cứu và liên kết với đề tài của khóa luận. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Dựa vào các nghiên cứu có liên quan, tác giả thiết lập mô hình nghiên cứu, giải thích các biến trong mô hình song song với việc trình bày nguồn và phƣơng pháp thu thập dữ liệu. Sau cùng, làm rõ phƣơng pháp phân tích dữ liệu cũng nhƣ các kiểm định có liên quan. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chƣơng này, tác giả lần lƣợt đƣa ra các kết quả thống kê, kết quả các kiểm định và kết quả hồi quy bởi phần mềm Stata 17.
Cuối cùng sau khi chọn đƣợc mô hình thích hợp để giải thích tác động của biến phụ thuộc, biến kiểm soát lên biến độc lập. Nhận xét, so sánh - đối chiếu, giải thích kết quả nghiên cứu trong tƣơng quan đối với các lý thuyết và những công trình liên quan. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chƣơng này tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, rút ra kết luận nghiên cứu, đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp cho các doanh nghiệp sản xuất nêu rõ những hạn chế và khuyến nghị cho các công trình nghiên cứu tiếp theo. 7 TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Thông qua chương đầu tiên, khoá luận đã trình bày tổng quan về tác động của cho thuê tài chính đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trương chứng khoán Việt Nam.
Bên cạnh đó, tác giả còn trình bày khái quát các vấn đề như mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cùng với sự cấp thiết của đề tài nghiên cứu và khoảng trống trong các nghiên cứu liên quan trước đây. Từ đó làm tiền đề xây dựng nên cơ sở lý thuyết cũng như đánh giá được mức độ tác động của cho thuê tài chính lên hiệu quả tài chính và những vấn đề này sẽ được tác giả trình bày ở chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT & LƢỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Trong phần này, tác giả tập trung vào các lý thuyết cơ bản nhƣ khái niệm về cho thuê tài chính, hiệu quả tài chính và các cơ sở lý thuyết có liên quan. Ngoài ra, tác giả cũng đã tìm hiểu và khảo lƣợc thêm các mô hình thực nghiệm của các công trình trong và ngoài nƣớc có liên quan đến đề tài này.1 Tổng quan về cho thuê tài chính 2.1 Định nghĩa Thuật ngữ "cho thuê" có thể đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Khái niệm cho thuê 'cổ điển' dựa trên lợi thế về thuế, trong đó bên thuê chuyển tài sản cho bên cho thuê, những ngƣời có thể khấu hao chúng để đổi lấy các khoản thanh toán tiền thuê rẻ hơn (Miller và Upton, 1976). Ủy ban Tiêu chuẩn Kế toán Nigeria (NASB) định nghĩa cho thuê là một thỏa thuận giữa ngƣời cho thuê và ngƣời thuê, trong đó ngƣời thuê đƣợc quyền sử dụng các tài sản đƣợc cho thuê và phải trả một khoản tiền định kỳ cho ngƣời cho thuê. Trong quá trình này, ngƣời cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản, trong khi ngƣời thuê đƣợc quyền sử dụng tài sản theo các điều khoản và điều kiện đã đƣợc thỏa thuận. Theo định nghĩa của NASB, cho thuê có thể bao gồm cả cho thuê tài sản cố định và cho thuê tài sản tiêu dùng.
Trong trƣờng hợp cho thuê tài sản cố định, tài sản thƣờng đƣợc sử dụng trong một khoảng thời gian dài, trong khi cho thuê tài sản tiêu dùng thƣờng áp dụng cho việc sử dụng tài sản trong một khoảng thời gian ngắn hơn. Theo Obiero (2014), cho thuê tài sản là một loại hợp đồng trong đó một bên là bên thuê sử dụng tài sản trong một thời gian dài và bên kia là bên cho thuê sẽ đƣợc thuê dài hạn trong một thời gian nhất định. Do đó, việc cho thuê có thể đƣợc mô tả nhƣ một hợp đồng giữa hai bên trong đó bên cho thuê (chủ sở hữu) đồng ý trao một tài sản trong một khoảng thời gian nhất định để đổi lấy tiền từ bên thuê (bên kia). Trong khi bên thuê phải trả tiền thuê theo các điều kiện của hợp đồng thuê, bên cho thuê cung cấp tài sản và cho phép họ sử dụng nó theo quyết định của họ.
9 Từ giữa thế kỷ 20, cho thuê tài chính là một nghiệp vụ mới xuất hiện bắt nguồn từ sự cả tiến hình của hình thức cho thuê tài sản truyền thống và dần dần trở thành một công cụ tài trợ trung và dài hạn phổ biến. Nó khác với hình thức cho thuê cũ chỉ là mua hoặc bán quyền sở hữu tài sản có thời hạn. Không những vậy, cho thuê tài chính là một cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ mở rộng khả năng tiếp cận vốn ngắn hạn và trung hạn. Từ góc độ kinh tế, cho thuê tài chính có thể đƣợc định nghĩa là "một hợp đồng giữa hai bên trong đó một bên (bên cho thuê) cung cấp một tài sản để sử dụng cho bên kia (bên thuê) trong một khoảng thời gian cụ thể, đổi lại là các khoản thanh toán đã đƣợc quy định" (Fletcher và cộng sự 2005).
Điều này cũng đƣợc phản ánh trong các định nghĩa liên quan đến kế toán: theo Tiêu chuẩn kế toán IAS 17, "một hợp đồng cho thuê là một thỏa thuận mà bên cho thuê chuyển giao cho bên thuê, đổi lại là các khoản thanh toán hoặc chuỗi các khoản thanh toán, quyền sử dụng một tài sản trong một khoảng thời gian đƣợc đồng ý" (European Commission, 2012). Theo Chính phủ Việt Nam, cho thuê tài chính đƣợc định nghĩa là một hoạt động tín dụng trong đó bên cho thuê và bên thuê ký kết các hợp đồng cho thuê tài chính trong một thời gian trung và dài hạn. Theo hợp đồng này, bên cho thuê sẽ mua các tài sản theo yêu cầu của bên thuê và giữ quyền sở hữu tài sản đó trong suốt thời gian thuê. Trong giao dịch thuê tài chính, bên thuê sẽ trả tiền thuê hàng tháng hoặc hàng quý cho bên cho thuê để sử dụng tài sản.
Các tài sản phù hợp cho cho thuê tài chính bao gồm các thiết bị, máy móc, phƣơng tiện vận tải và tài sản khác đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc phê duyệt. Các tài sản này sẽ đƣợc ghi nhận là tài sản cho thuê tài chính trên bảng cân đối kế toán của bên thuê. 10 Quy trình cho thuê: Bên thuê (1) (5) (4) (2) Nhà Bên cho cung cấp thuê (3) (1) Bên thuê liên hệ với nhà cung cấp để chọn lựa thiết bị và phƣơng thức mua. (2) Bên thuê liên hiện với bên cho thuê để thƣơng lƣợng phƣơng thức mua.
(3) Bên cho thuê tiến hành làm hồ sơ 3 bên và thanh toán cho nhà cung cấp. (4) Nhà cung cấp bàn giao thiết bị theo hợp đồng đã thỏa thuận cho bên thuê sử dụng. (5) Bên thuê thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê theo nhƣ trên hợp đồng đã thỏa thuận.2 Các loại hợp đồng thuê Các hợp đồng thuê hiện đƣợc phân loại theo Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC- International Accounting Standard Council) gồm: hợp đồng thuê tài sản cố định (hoặc còn đƣợc gọi là hợp đồng thuê tài chính) và hợp đồng thuê tài sản không cố định (hoặc còn đƣợc gọi là hợp đồng thuê vận hành). Phân loại này dựa trên việc xác định xem liệu hầu hết các rủi ro và quyền sở hữu có chuyển giao cho ngƣời thuê hay không.
11 - Cho thuê tài chính Hợp đồng thuê tài chính, còn đƣợc gọi là hợp đồng thuê tài sản cố định hoặc hợp đồng thuê dài hạn. Nó có thể hiện sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền quyền sở hữu tài sản. Do đó, hợp đồng thuê tài chính đƣợc xây dựng dƣới dạng một thỏa thuận không thể hủy bỏ, trong đó công ty cho thuê mua các thiết bị mà khách hàng đã chọn và khách hàng sử dụng các thiết bị trong một khoảng thời gian nhất định (Ndu, 2004). - Cho thuê hoạt động Hợp đồng thuê hoạt động, còn đƣợc gọi là hợp đồng thuê tài sản không cố định, đòi hỏi ngƣời thuê chỉ thuê một tài sản trong một khoảng thời gian ngắn hơn rất nhiều so với tuổi thọ kinh tế của tài sản.
Trái với hình thức cho thuê tài sản cố định, cho thuê hoạt động thƣờng có thời hạn ngắn hơn và tập trung vào việc cung cấp quyền sử dụng tài sản mà không yêu cầu ngƣời thuê chịu trách nhiệm tài chính hoặc quản lý chi phí bảo trì tài sản. Thông qua hợp đồng cho thuê hoạt động, ngƣời thuê có thể sử dụng tài sản mà không phải mua nó, giúp tăng tính linh hoạt và giảm rủi ro tài chính cho doanh nghiệp. Ở Việt Nam, thuật ngữ "cho thuê tài chính" thƣờng đƣợc sử dụng nhiều hơn "cho thuê hoạt động". Thuật ngữ "cho thuê tài chính" thƣờng đƣợc áp dụng trong lĩnh vực tài chính công ty và ngân hàng, để chỉ quá trình cho thuê các tài sản cố định nhƣ máy móc, thiết bị, xe cộ và động sản.
Tuy nhiên, thuật ngữ "cho thuê hoạt động" cũng đƣợc sử dụng trong một số trƣờng hợp, đặc biệt là khi đề cập đến việc cho thuê các hoạt động, dịch vụ hoặc quy trình kinh doanh của một doanh nghiệp. Ví dụ, cho thuê hoạt động trong lĩnh vực logistics có thể ám chỉ việc cho thuê các hoạt động vận chuyển, quản lý kho hàng, hay dịch vụ liên quan đến chuỗi cung ứng. Tóm lại, trong lĩnh vực tài chính, thuật ngữ "cho thuê tài chính" phổ biến hơn, trong khi "cho thuê hoạt động" đƣợc sử dụng trong ngữ cảnh cụ thể và liên quan đến việc cho thuê các hoạt động, dịch vụ hoặc quy trình kinh doanh.2 Tổng quan về hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính (financial performance) đề cập đến khả năng của một tổ chức trong việc tạo ra thu nhập, lợi nhuận và tăng giá trị. Nó thƣờng đƣợc đo lƣờng bằng các chỉ số và hệ số tài chính để đánh giá hiệu suất và thành tích của một doanh nghiệp (Asimakopoulos và cộng sự, 2009).