Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (mã số 62.01) của tác giả Nguyễn Hà Linh, với đề tài "Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam", được hoàn thành năm 2017 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Hữu Ánh.

Về tính cấp thiết, chế độ kế toán Việt Nam hiện hành quy định việc lập báo cáo tài chính (trừ báo cáo lưu chuyển tiền tệ) phải thực hiện trên cơ sở dồn tích. Tuy nhiên, chế độ kế toán cũng cho phép sự linh hoạt trong việc ghi nhận doanh thu, chi phí và lựa chọn các ước tính kế toán. Sự can thiệp mang tính chủ quan của nhà quản trị vào quá trình công bố thông tin nhằm phục vụ mục đích cá nhân tạo ra hiện tượng điều chỉnh lợi nhuận (Earnings Management), làm sai lệch tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính. Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thực trạng chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán diễn ra với quy mô lớn, điển hình như Vinaconex năm 2009 giảm 257 tỷ đồng lợi nhuận sau kiểm toán, Công ty Cổ phần Thép Việt Ý năm 2011 phát sinh thêm 111 tỷ đồng chi phí dự phòng làm lợi nhuận giảm từ 110 tỷ đồng xuống 27,2 tỷ đồng, hay Công ty Cổ phần Thiết bị Y tế Việt Nhật (JVC) năm 2015 có mức chênh lệch sau kiểm toán lên tới 622 tỷ đồng. Theo báo cáo của World Bank năm 2013, xếp hạng bảo vệ nhà đầu tư của Việt Nam ở mức thấp (vị trí 157/189 quốc gia), đòi hỏi các nghiên cứu thực chứng làm rõ hành vi điều chỉnh lợi nhuận để hỗ trợ người sử dụng thông tin.

Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình thực chứng về các nhân tố tác động đến điều chỉnh lợi nhuận tại Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu tiếp cận theo các sự kiện đơn lẻ hoặc phân tích lý tính. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo sát đồng thời hai nhóm nhân tố: đặc điểm doanh nghiệp và cơ chế quản lý - kiểm soát trên tập mẫu các công ty phi tài chính niêm yết.

Mục tiêu tổng quát của luận án là thực hiện nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các nhân tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp, đặc điểm quản lý – kiểm soát với hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận án đặt ra 4 mục tiêu cụ thể:

  1. Khái quát, hệ thống hóa lý thuyết cơ sở của việc điều chỉnh lợi nhuận và cơ sở lý luận liên quan tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty cổ phần.
  2. Tổng quan và lựa chọn mô hình phù hợp trong phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  3. Thực hiện nghiên cứu thực chứng nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các nhân tố thuộc đặc điểm công ty (hệ số nợ, quy mô công ty, hiệu quả tài chính) với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
  4. Thực hiện nghiên cứu thực chứng nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các nhân tố thuộc cơ chế quản lý - kiểm soát (quy mô hội đồng quản trị, sự kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT, số lượng thành viên HĐQT độc lập, cấu trúc sở hữu, kiểm toán độc lập) với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được đánh số từ 1 đến 9:

  • Câu hỏi 1: Các mô hình điều chỉnh lợi nhuận phức tạp và có tính học thuật cao có phù hợp khi áp dụng tại thị trường chứng khoán Việt Nam không?
  • Câu hỏi 2: Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, việc các công ty có đặc điểm về "Hệ số nợ" khác nhau thì có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
  • Câu hỏi 3: Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, khi "Hiệu quả tài chính" đạt được là khác nhau thì điều này có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
  • Câu hỏi 4: Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, sự khác biệt về "Quy mô công ty" có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
  • Câu hỏi 5: Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, "Quy mô HĐQT" có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
  • Câu hỏi 6: Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, "Số lượng thành viên độc lập trong HĐQT" có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
  • Câu hỏi 7: Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, "Sự kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT" có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
  • Câu hỏi 8: Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, "Cấu trúc sở hữu" có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
  • Câu hỏi 9: Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, "Kiểm toán độc lập" có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?

Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Phạm vi không gian bao gồm các công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán HOSE và HNX, loại bỏ các ngân hàng và tổ chức tài chính tín dụng do có cấu trúc tài chính đặc thù. Phạm vi thời gian sử dụng số liệu báo cáo tài chính giai đoạn 2010 – 2014. Phạm vi nội dung tập trung vào hai nhóm biến độc lập: đặc điểm doanh nghiệp và cơ chế quản lý – kiểm soát tác động đến biến phụ thuộc là giá trị dồn tích có thể điều chỉnh (DA).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba mạch nội dung chính:

Thứ nhất, các công trình về mô hình đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua phần dồn tích. Tác giả tổng thuật mô hình của Healy (1985) và DeAngelo (1986) dựa trên tổng dồn tích trung bình và tổng dồn tích năm trước; Friedlan (1994) bổ sung biến doanh thu; Jones (1991) đưa biến doanh thu và nguyên giá tài sản cố định vào kiểm soát mức độ hoạt động; Dechow, Sloan và Sweeney (1995) hoàn thiện mô hình Jones điều chỉnh bằng cách trừ đi biến động khoản phải thu; Kang và Sivaramakrishnan (1995) bổ sung biến chi phí; Kasznik (1999) kết hợp dòng tiền hoạt động (CFO); Yoon và Miller (2002), Yoon và cộng sự (2006) phát triển mô hình cho thị trường châu Á; Kothari, Leone và Wasley (2005) bổ sung biến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA); Rahman và Shahrur (2008) bổ sung chỉ số giá trị sổ sách trên giá thị trường (BM); Fakhfakh và Nasfi (2012) áp dụng mô hình Dechow và cộng sự (2003).

Thứ hai, các nghiên cứu về động cơ điều chỉnh lợi nhuận. Beneish (2001) phân loại hai nhóm động cơ làm tăng hoặc giảm lợi nhuận. Về động cơ thu hút vốn qua phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO) hoặc phát hành thêm, luận án điểm lại các nghiên cứu quốc tế của Gumanti (1996), Teoh, Welch và Wong (1998a), Haw và cộng sự (2005) tại Trung Quốc và các nghiên cứu tại Việt Nam của Huỳnh Thị Vân (2012), Nguyễn Thị Uyên Phương (2014), Phan Thị Thùy Dương (2015). Về động cơ lương thưởng quản lý, tác giả phân tích công trình của Healy (1985) và Holthausen và cộng sự (1995). Về động cơ chính trị và chính sách thuế, luận án dẫn chứng nghiên cứu của Jones (1991), Key (1997) và Nguyễn Thị Phương Thảo (2011). Ngoài ra, các động cơ mua lại cổ phần hay thương lượng hợp đồng nợ được khảo sát qua DeAngelo (1986), Perry và Williams (1994), Trueman (1990), Fern, Brown và Dickey (1994).

Thứ ba, các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến điều chỉnh lợi nhuận. Nhóm nghiên cứu kết hợp nhiều nhân tố bao gồm Charfeddine, Riahi và Omri (2013) tại Tunisia chia thành nhóm nhân tố "thúc đẩy" và "hạn chế"; Fathi (2013) tại Pháp phân chia nhóm "đặc điểm công ty" và "cơ chế kiểm soát"; Sahlan (2011) và Johari và cộng sự (2008) tại Malaysia; Nassirzadeh, Salehi và Alaei (2012) tại Iran; Alsharairi và Salama (2012) tại Mỹ; Ardison, Martinez và Galdi (2012) tại Brazil; Alves (2012) tại Bồ Đào Nha; Januarsi, Badina và Febrianti (2014) tại Indonesia; Khalil (2010) tại Ai Cập. Nhóm nghiên cứu tập trung vào từng nhân tố riêng lẻ gồm Kim và cộng sự (2003) nghiên cứu quy mô công ty; Defond và Jiambalvo (1994), Shen và Chih (2007) nghiên cứu hệ số nợ; Siregar và Utama (2008) nghiên cứu cấu trúc sở hữu; Alves (2012) nghiên cứu đặc điểm hội đồng quản trị.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định và lựa chọn giải quyết là: phần lớn các nghiên cứu trong nước trước đây chỉ tiếp cận điều chỉnh lợi nhuận trong một sự kiện tài chính cụ thể hoặc mang tính mô tả định tính. Luận án đặt vị trí của mình là công trình kiểm định thực chứng toàn diện trên thị trường chứng khoán Việt Nam, ứng dụng mô hình gốc Jones (1991) để đo lường phần dồn tích có thể điều chỉnh và kiểm tra đồng thời tác động của nhóm đặc điểm doanh nghiệp lẫn nhóm quản trị - kiểm soát.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng ba lý thuyết kinh tế học tân cổ điển và quản trị tài chính làm nền tảng:

  1. Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory - PAT) của Watts và Zimmerman (1986): dựa trên giả định con người hành động vị kỷ để giải thích và dự đoán các lựa chọn kế toán. Luận án vận dụng ba giả thuyết kinh điển của PAT gồm: giả thuyết kế hoạch thưởng (nhà quản trị điều chỉnh tăng lợi nhuận hiện tại khi gắn với lợi ích thưởng), giả thuyết hệ số nợ/vốn chủ sở hữu (doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận để tránh vi phạm các điều khoản hạn chế của hợp đồng vay nợ) và giả thuyết chi phí chính trị (doanh nghiệp quy mô lớn hoặc chịu sự giám sát điều tiết cao có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm giảm thiểu chi phí chính trị).
  2. Lý thuyết đại diện (Agency Theory - AT) của Jensen và Meckling (1976), kế thừa tư tưởng phân tách quyền sở hữu và quyền quản lý của Berle và Means (1932) cùng lý thuyết hợp đồng của Coase (1937): giải thích xung đột lợi ích giữa cổ đông (bên ủy nhiệm) và nhà quản lý (bên đại diện). Nhà quản trị có hành vi cơ hội nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân, làm phát sinh chi phí đại diện. Báo cáo tài chính và cơ chế quản trị công ty đóng vai trò là công cụ kiểm soát nhằm hạn chế các hành vi này.
  3. Lý thuyết thông tin bất đối xứng (Information Asymmetry - IA) của Akerlof (1970) với mô hình thị trường xe cũ dẫn đến hiện tượng lựa chọn bất lợi (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard) theo Stiglitz (1974, 1975), Spence và Zeckhauser (1971), Healy và Palepu (2001): giải thích rằng khoảng cách thông tin giữa nhà quản trị nội bộ và các nhà đầu tư bên ngoài tạo kẽ hở cho hành vi che giấu, bóp méo số liệu kế toán.

Về mô hình đo lường biến phụ thuộc, luận án sử dụng Mô hình Jones gốc (1991) để xác định phần dồn tích có thể điều chỉnh (DA). Tổng giá trị dồn tích (TA) được tách thành phần dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) và phần dồn tích có thể điều chỉnh (DA). Mô hình xác định tham số hồi quy thông qua OLS:

$$\frac{TA_{it}}{A_{it-1}} = \alpha_1 \frac{1}{A_{it-1}} + \alpha_2 \frac{\Delta REV_{it}}{A_{it-1}} + \alpha_3 \frac{PPE_{it}}{A_{it-1}} + \varepsilon_{it}$$

Trong đó:

  • $TA_{it}$: Tổng dồn tích của công ty $i$ năm $t$.
  • $A_{it-1}$: Tổng tài sản của công ty $i$ cuối năm $t-1$.
  • $\Delta REV_{it}$: Doanh thu thuần năm $t$ trừ doanh thu thuần năm $t-1$ của công ty $i$.
  • $PPE_{it}$: Nguyên giá tài sản cố định hữu hình của công ty $i$ cuối năm $t$.
  • $\alpha_1, \alpha_2, \alpha_3$: Các hệ số ước lượng; $\varepsilon_{it}$: Sai số ngẫu nhiên.

Sau khi ước tính các hệ số $a_1, a_2, a_3$, giá trị $NDA_{it}$ và $DA_{it}$ được tính theo công thức:

$$NDA_{it} = a_1 \frac{1}{A_{it-1}} + a_2 \frac{\Delta REV_{it}}{A_{it-1}} + a_3 \frac{PPE_{it}}{A_{it-1}}$$

$$DA_{it} = \frac{TA_{it}}{A_{it-1}} - NDA_{it}$$

Về phương pháp phân tích thực nghiệm, nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng (panel data) phân tích trên phần mềm STATA. Quy trình thực hiện gồm các bước: thống kê mô tả, ma trận tương quan Pearson, phân tích đơn biến (Univariate Analysis) và phân tích hồi quy đa biến. Luận án chạy các mô hình: hồi quy bình phương bé nhất (OLS), hồi quy ảnh hưởng cố định (FEM) và hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM). Để lựa chọn mô hình, luận án tiến hành kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian Multiplier (chọn giữa OLS và REM), kiểm định Hausman (chọn giữa FEM và REM). Sau khi lựa chọn mô hình, tác giả thực hiện kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan. Khi phát hiện các khuyết tật này, mô hình hồi quy FEM theo sai số chuẩn vững (robust SE) được sử dụng để đưa ra các ước lượng không chệch và có hiệu quả.

Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm các báo cáo tài chính kiểm toán và báo cáo quản trị của các công ty niêm yết giai đoạn 2010 – 2014 do Công ty Vietstock và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cung cấp.

Nhóm biến Tên biến Ký hiệu Ý nghĩa và cách thức đo lường theo văn bản
Biến phụ thuộc Điều chỉnh lợi nhuận DA Phần dồn tích có thể điều chỉnh đo lường qua mô hình Jones (1991)
Đặc điểm doanh nghiệp Hệ số nợ DEBT Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản hoặc nợ trên vốn chủ sở hữu
Đặc điểm doanh nghiệp Hiệu quả tài chính PERF Đo lường bằng sức sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc tổng tài sản (ROA)
Đặc điểm doanh nghiệp Quy mô công ty SIZE Quy mô tổng tài sản hoặc doanh thu của doanh nghiệp
Quản lý - kiểm soát Quy mô HĐQT BOARD Tổng số lượng thành viên trong Hội đồng quản trị
Quản lý - kiểm soát Kiêm nhiệm chức danh DUAL Biến nhị phân nhận giá trị 1 nếu CEO kiêm Chủ tịch HĐQT, nhận 0 nếu tách rời
Quản lý - kiểm soát Thành viên độc lập IDV Số lượng hoặc tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT
Quản lý - kiểm soát Sở hữu nhà nước OWN1 Tỷ lệ phần trăm cổ phần do Nhà nước nắm giữ
Quản lý - kiểm soát Sở hữu nước ngoài OWN2 Tỷ lệ phần trăm cổ phần do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ
Quản lý - kiểm soát Kiểm toán độc lập AUDIT Biến nhị phân nhận giá trị 1 nếu được kiểm toán bởi công ty Big 4, nhận 0 nếu ngược lại

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể của đề tài. Tác giả luận giải tính cấp thiết xuất phát từ các vụ việc gian lận kế toán trên thế giới (Enron, WorldCom, Tyco, Xerox) và thực tế chênh lệch lợi nhuận sau kiểm toán nghiêm trọng tại Việt Nam. Chương này xác định rõ mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, 9 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là các công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE và HNX, loại bỏ các định chế tài chính do đặc thù quản lý. Dữ liệu thu thập cho giai đoạn 2010 – 2014 từ Vietstock và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Sơ đồ khung nghiên cứu được thiết kế thể hiện mối quan hệ logic từ lý thuyết nền tảng, tổng quan tài liệu, xác định khoảng trống, thiết lập giả thuyết đến kiểm định mô hình hồi quy bội.

Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp

Chương 2 trình bày hệ thống lý luận về hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Luận án phân tích khái niệm theo các góc nhìn học thuật: Schipper (1989) nhấn mạnh sự can thiệp có chủ ý; Healy và Wahlen (1999) nhấn mạnh việc đánh giá chủ quan làm sai lệch thông tin hợp đồng và quyết định của cổ đông; Ronen và Yaari (2007) phân biệt giữa điều chỉnh hợp pháp và bóp méo gian lận; Davidson và cộng sự (1987), Watts và Zimmerman (1990) định vị ranh giới trong và ngoài các nguyên tắc kế toán thừa nhận. Tác giả phân tích cơ sở dồn tích trong IAS 1, việc lựa chọn phương pháp kế toán (tính giá hàng tồn kho FIFO, bình quân; khấu hao đường thẳng, giảm dần; ghi nhận doanh thu - chi phí) và các xét đoán chủ quan trong ước tính kế toán (dự phòng nợ khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, bảo hành). Chương 2 làm rõ ba lý thuyết nền móng (PAT, AT, IA) và tổng kết chi tiết các mô hình dồn tích (Healy 1985, DeAngelo 1986, Friedlan 1994, Jones 1991, Dechow và cộng sự 1995, Kothari và cộng sự 2005, Rahman và Shahrur 2008). Cuối chương, tác giả tổng thuật các nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố tác động, xác định việc lựa chọn mô hình Jones (1991) là bước đi phù hợp cho dữ liệu TTCK Việt Nam.

Chương 3: Xây dựng giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 thiết lập hệ thống các giả thuyết nghiên cứu chia thành hai nhóm. Nhóm giả thuyết về đặc điểm doanh nghiệp gồm các mối quan hệ giữa Hệ số nợ (DEBT), Hiệu quả tài chính (PERF), Quy mô công ty (SIZE) với biến phụ thuộc DA. Nhóm giả thuyết về cơ chế quản lý – kiểm soát gồm Quy mô HĐQT (BOARD), Sự kiêm nhiệm CEO và Chủ tịch HĐQT (DUAL), Số lượng thành viên HĐQT độc lập (IDV), Cấu trúc sở hữu (tỷ lệ sở hữu nhà nước OWN1, tỷ lệ sở hữu nước ngoài OWN2) và Kiểm toán độc lập (AUDIT). Tác giả xây dựng phương trình hồi quy bội dạng dữ liệu bảng:

$$DA_{it} = \beta_0 + \beta_1 DEBT_{it} + \beta_2 PERF_{it} + \beta_3 SIZE_{it} + \beta_4 BOARD_{it} + \beta_5 DUAL_{it} + \beta_6 IDV_{it} + \beta_7 OWN1_{it} + \beta_8 OWN2_{it} + \beta_9 AUDIT_{it} + \varepsilon_{it}$$

Chương 3 mô tả quy trình thu thập dữ liệu báo cáo tài chính của các công ty niêm yết đủ điều kiện trên HOSE và HNX giai đoạn 2010 – 2014, phương pháp xử lý dữ liệu thông qua các kiểm định OLS, FEM, REM, kiểm định Hausman, kiểm định đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi và tự tương quan nhằm đảm bảo độ tin cậy của mô hình ước lượng.

Chương 4: Thực trạng về sự tác động của các nhân tố đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 4 cung cấp bức tranh thực trạng về thị trường chứng khoán Việt Nam và số liệu thống kê tình hình chênh lệch lợi nhuận sau kiểm toán từ 2012 – 2015. Tác giả trình bày kết quả thống kê mô tả cho từng biến nghiên cứu (giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất của DA, DEBT, PERF, SIZE, BOARD, OWN1, OWN2, AUDIT, IDV, DUAL), ma trận hệ số tương quan giữa các biến nhằm tầm soát hiện tượng đa cộng tuyến và kết quả phân tích đơn biến (Univariate Analysis). Tiếp đó, chương 4 trình bày kết quả ước lượng từ mô hình OLS, FEM và REM. Kết quả kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian Multiplier cho thấy mô hình dữ liệu bảng phù hợp hơn OLS; kiểm định Hausman khẳng định mô hình tác động cố định (FEM) ưu việt hơn mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Tuy nhiên, các kiểm định chẩn đoán sau hồi quy chỉ ra sự hiện diện của hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan. Do đó, luận án tiến hành ước lượng mô hình FEM theo sai số chuẩn vững (FEM robust SE) để khắc phục triệt để các khuyết tật này và đưa ra kết quả ước lượng cuối cùng.

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận

Chương 5 tiến hành so sánh đối chiếu giữa 4 mô hình (OLS, FEM, REM và FEM robust SE), tập trung thảo luận sâu kết quả thu được từ mô hình FEM robust SE trong mối tương quan với các giả thuyết nghiên cứu ban đầu. Tác giả luận giải chi tiết cơ chế tác động của từng nhân tố:

  • Nhân tố DEBT: Mức độ đòn bẩy tài chính tạo áp lực khiến nhà quản trị thực hiện điều chỉnh lợi nhuận dồn tích nhằm đáp ứng các ràng buộc hợp đồng nợ vay.
  • Nhân tố PERF: Hiệu quả tài chính có mối liên hệ với hành vi dồn tích, phản ánh nỗ lực điều hòa lợi nhuận hoặc làm đẹp báo cáo.
  • Nhân tố SIZE: Quy mô công ty thể hiện sự đánh đổi giữa động cơ tránh chi phí chính trị và năng lực quản trị.
  • Các nhân tố quản lý - kiểm soát (BOARD, IDV, DUAL, OWN1, OWN2, AUDIT): Luận án làm rõ mức độ hiệu quả của cơ chế giám sát từ HĐQT, vai trò của thành viên độc lập, tác động từ sự tách bạch vị trí quản lý và điều hành, ảnh hưởng của cổ đông nhà nước, cổ đông nước ngoài và chất lượng kiểm toán của các công ty Big 4 trong việc kiềm chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Trên cơ sở kết quả thảo luận, chương 5 đưa ra hệ thống khuyến nghị cho 4 nhóm đối tượng (nhà đầu tư, doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước và các bên liên quan khác), tổng kết các đóng góp mới, nêu rõ hạn chế của luận án và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt khoa học và lý luận, luận án hệ thống hóa và làm phong phú thêm cơ sở lý luận của trường phái kế toán thực chứng (PAT), lý thuyết đại diện (AT) và lý thuyết thông tin bất đối xứng (IA) tại một thị trường chứng khoán mới nổi như Việt Nam. Công trình kiểm chứng thực nghiệm tính ứng dụng của mô hình gốc Jones (1991) trong việc đo lường phần dồn tích có thể điều chỉnh (DA), cung cấp khung phân tích kết hợp đồng thời hai nhóm nhân tố: đặc điểm nội tại doanh nghiệp và cơ chế quản lý - kiểm soát.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại và mức độ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận dồn tích tại các công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2010 – 2014. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tác động cụ thể của hệ số nợ, hiệu quả hoạt động, quy mô công ty cũng như các đặc điểm quản trị công ty (quy mô HĐQT, tính độc lập của HĐQT, sự kiêm nhiệm của CEO, tỷ lệ sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và kiểm toán Big 4) đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Hệ thống kiến nghị và giải pháp đề xuất bao gồm:

  • Đối với nhà đầu tư: Cần nâng cao hiểu biết về cơ sở dồn tích trong kế toán, nhận diện rủi ro từ các khoản ước tính kế toán chủ quan và sự chênh lệch lợi nhuận kiểm toán; kết hợp phân tích lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh thay vì chỉ căn cứ vào số liệu lợi nhuận kế toán thuần túy.
  • Đối với doanh nghiệp: Tăng cường tính minh bạch trong việc lập và công bố báo cáo tài chính; hoàn thiện quy chế quản trị nội bộ; thực hiện phân tách rõ ràng giữa chức danh Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành (CEO); nâng cao thực quyền và số lượng thành viên độc lập trong HĐQT để kiểm soát hành vi cơ hội của ban điều hành.
  • Đối với cơ quan chức năng (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): Rà soát, hoàn thiện các quy định và chuẩn mực kế toán liên quan đến các khoản ước tính, dự phòng nhằm thu hẹp các kẽ hở cho phép điều chỉnh lợi nhuận tùy tiện; siết chặt quy định về quản trị công ty niêm yết; tăng cường giám sát việc công bố thông tin, xử phạt nghiêm minh các trường hợp cố tình bóp méo số liệu; nâng cao hiệu lực của khuôn khổ pháp lý nhằm cải thiện chỉ số bảo vệ nhà đầu tư.
  • Đối với nhóm đối tượng khác (công ty kiểm toán, ngân hàng): Kiểm toán viên độc lập cần nâng cao tính hoài nghi nghề nghiệp đối với các khoản dồn tích bất thường; các ngân hàng thương mại cần thiết kế các điều khoản hạn chế chặt chẽ trong hợp đồng tín dụng dựa trên cả chỉ tiêu dòng tiền thực tế thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào số liệu kế toán dồn tích.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định các điểm giới hạn sau:

  • Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào các công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, không bao gồm khối ngân hàng, bảo hiểm, công ty tài chính do các đơn vị này có cơ chế kế toán và quản lý đặc thù.
  • Khung thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp dừng lại ở giai đoạn 2010 – 2014, chưa bao quát các giai đoạn thay đổi thể chế và biến động kinh tế sau năm 2014.
  • Luận án mới chỉ kiểm nghiệm mô hình gốc Jones (1991) để đo lường phần dồn tích có thể điều chỉnh, chưa thực hiện so sánh đối chứng toàn diện với các mô hình điều chỉnh khác như mô hình Jones điều chỉnh (1995), mô hình Kothari và cộng sự (2005) hay mô hình Rahman và Shahrur (2008).
  • Nghiên cứu hoàn toàn dựa trên dữ liệu báo cáo tài chính công bố thứ cấp, chưa kết hợp các phương pháp điều tra định tính trực tiếp về động cơ của nhà quản trị.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, tác giả định hướng:

  • Mở rộng phạm vi dữ liệu khảo sát sang các giai đoạn tiếp theo để đánh giá sự thay đổi của hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các chu kỳ kinh tế mới.
  • Ứng dụng và so sánh hiệu quả đo lường giữa mô hình gốc Jones (1991) với các mô hình Jones điều chỉnh (1995), mô hình Kothari (2005) bổ sung biến ROA, mô hình Rahman và Shahrur (2008) bổ sung biến tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường (BM) tại thị trường Việt Nam.
  • Nghiên cứu sâu hành vi điều chỉnh lợi nhuận phân theo từng phân ngành kinh tế cụ thể để kiểm soát đặc thù chu kỳ kinh doanh của từng lĩnh vực.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kế toán - Kiểm toán - Phân tích tài chính: Luận án là tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình nghiên cứu thực chứng theo trường phái PAT, từ khâu bóc tách dồn tích bằng mô hình Jones (1991) đến việc xử lý dữ liệu bảng bằng phần mềm STATA, thực hiện các kiểm định chẩn đoán khuyết tật mô hình (Lagrangian Multiplier, Hausman, kiểm định phương sai thay đổi, tự tương quan) và xử lý bằng FEM robust SE. Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống hóa cơ sở lý luận trong Chương 2 và quy trình xây dựng phương trình hồi quy bội trong Chương 3.
  • Các nhà phân tích tài chính và nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán: Luận án cung cấp cơ sở để nhận diện chất lượng lợi nhuận, phân tích rủi ro từ các khoản dồn tích có thể điều chỉnh và đánh giá mức độ tin cậy của thông tin kế toán công bố trước và sau kiểm toán.
  • Cơ quan xây dựng chính sách và cơ quan quản lý thị trường (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính): Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của các cơ chế quản trị công ty và kiểm toán độc lập, làm cơ sở khoa học để ban hành các quy định quản trị công ty niêm yết và hoàn thiện chuẩn mực kế toán Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án sử dụng mô hình nào để đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận và biến phụ thuộc được xác định ra sao? Luận án sử dụng Mô hình gốc Jones (1991) để đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Biến phụ thuộc là phần dồn tích có thể điều chỉnh ($DA_{it}$), được tính bằng cách lấy tổng dồn tích chuẩn hóa ($\frac{TA_{it}}{A_{it-1}}$) trừ đi phần dồn tích không thể điều chỉnh ($NDA_{it}$), trong đó $NDA_{it}$ được ước lượng từ biến doanh thu ($\Delta REV$) và nguyên giá tài sản cố định hữu hình ($PPE$).

  2. Vì sao luận án loại bỏ các tổ chức tài chính, ngân hàng và công ty bảo hiểm ra khỏi phạm vi mẫu nghiên cứu? Theo thuyết minh của tác giả tại Chương 1, các tổ chức tài chính, tín dụng và ngân hàng bị loại bỏ do có cấu trúc tài chính đặc thù (tỷ lệ nợ rất cao và bản chất tài sản khác biệt) và chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các quy định, chuẩn mực pháp lý riêng biệt của Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ, không tương đồng với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường.

  3. Dữ liệu nghiên cứu của luận án được thu thập từ nguồn nào và trong khoảng thời gian nào? Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp gồm báo cáo tài chính và báo cáo quản trị của các công ty phi tài chính niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014, do Công ty Vietstock và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cung cấp.

  4. Mô hình kinh tế lượng cuối cùng nào được luận án lựa chọn để thảo luận kết quả nghiên cứu và lý do lựa chọn là gì? Mô hình hồi quy ảnh hưởng cố định theo sai số chuẩn vững (FEM robust SE) được lựa chọn. Luận án đã thực hiện kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian Multiplier (chọn REM thay vì OLS), kiểm định Hausman (chọn FEM thay vì REM). Do mô hình FEM xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, kỹ thuật ước lượng FEM với sai số chuẩn vững (robust SE) được áp dụng để loại bỏ các khuyết tật này.

  5. Ba lý thuyết nền tảng nào được luận án vận dụng xuyên suốt để giải thích hành vi điều chỉnh lợi nhuận? Ba lý thuyết nền tảng được luận án sử dụng là: Lý thuyết kế toán thực chứng (PAT) của Watts và Zimmerman (1986), Lý thuyết đại diện (AT) của Jensen và Meckling (1976) và Lý thuyết thông tin bất đối xứng (IA) của Akerlof (1970) cùng các nghiên cứu liên quan của Healy và Palepu (2001).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hà Linh đã thực hiện nghiên cứu thực chứng về tác động của các nhân tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp và cơ chế quản lý - kiểm soát đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014. Thông qua việc vận dụng lý thuyết kế toán thực chứng, lý thuyết đại diện, lý thuyết thông tin bất đối xứng và mô hình đo lường dồn tích Jones (1991), nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và chỉ ra vai trò của các biến cấu trúc tài chính, quy mô, hiệu quả hoạt động cùng các yếu tố quản trị công ty đối với chất lượng báo cáo tài chính. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu học thuật, đồng thời cung cấp căn cứ thực tiễn phục vụ các quyết định đầu tư, quản trị doanh nghiệp và hoạch định chính sách quản lý thị trường chứng khoán.