Chương 1: Tổng quan lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam niêm yết trên sàn chứng khoán giai đoạn 2013-2021. CHUONG 1: TONG QUAN LÝ THUYÉT VE CÁC YEU TO ANH HUONG DEN RUI RO TIN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Rui ro tín dung trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mai 1.
Khái niệm về rủi ro tín dụng Có thê nói, hoạt động tín dụng được coi là hoạt động cơ bản của ngân hàng và là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, trong hoạt động tin dụng có thé xảy ra rất nhiều rủi ro như những rủi ro về tín dụng. Vậy rủi ro tín dụng là gì? Trên thực tế, ta có thê thấy rằng có rất nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng, cụ thê như: Theo định nghĩa của tác gia Timothy W.Koch (2006) thì “Rui ro tin dụng là sự thay đồi tiềm ẩn của mức lương thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán tré hạn”. Theo định nghĩa của tác gia Anthony Sauders (2007) thì “Rui ro tín dụng là ` khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tin dụng cho một khách hàng, nghĩa là luỗng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”.
Hay theo khoản 1 điều 3 Thông tư số 02/2013/TT của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thì rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rui ro tín dung là ton thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tin dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phân hoặc toàn bộ nghĩa vụ cua mình theo cam kết". Dựa trên tất cả các định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng nêu trên thì ta có thé hiểu ban chất của rủi ro tín dụng là một trong các loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nó xảy ra khi bên đi vay không thực hiện được trong một giao dịch nào đó. Có thể thấy, rủi ro tin dụng có muôn hình muôn vẻ, với nhiều hình thái và biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Song, chúng luôn tiềm ân trong suốt quá trình trước, trong và sau khi cho vay, biểu hiện cụ thé ra bên ngoài là khoản vay không thu hồi được, nợ quá hạn, nợ khó đòi,. Như vậy, trên cơ sở bản chất của rủi ro tín dụng, chuyên đề rút ra khái niệm sau: “Rui ro tín dụng (RRTD) là rui ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hang chậm trả nợ, trả nợ không day đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản sốc và lãi vay, gây ra những ton thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM)”. Day là khái niệm sử dụng xuyên suốt trong chuyên đề này. Hệ quả của rủi ro tín dụng RRTD luôn gan liền và tiềm ân trong hoạt động cấp tin dụng của các ngân hang.
Đây là loại rủi ro không thé tránh khỏi và có thé xảy ra bat cứ lúc nào. RRTD luôn là một mối đe dọa lớn đối với cá nhân khách hàng, bản thân mỗi ngân hàng và cả nền kinh tế nói chung. Ta có thé ké đến một số hệ quả của RRTD như sau: Đối với khách hàng: Có thé thấy, gánh nặng và áp lực của người di vay sẽ càng tăng lên khi những khoản nợ không được trả gốc và lãi đúng thời hạn. Do đó, trong điều kiện thị trường sử dụng vốn vay bat lợi thì khách hàng có thê phải chịu phí phat và sự giám sát chặt chẽ hơn của ngân hàng.
Bên cạnh đó, nếu RRTD ngày càng gia tăng, các ngân hàng sẽ càng phải thắt chặt quy trình tín dụng, điều đó khiến cho thủ tục cấp vốn càng thêm phức tạp và tốn nhiều thời gian hơn, hệ quả là khách hàng khó tiếp cận nguồn vốn hơn so với trước đây. Đối với ngân hàng: RRTD không chỉ làm cho tô chức ngân hàng bị mắt cơ hội nhận được tiền lãi mà còn ảnh hưởng đến nguồn lợi nhuận và vốn tự có của các ngân hàng. Ngân hang có thé sẽ mat khả năng thanh toán, dẫn đến thua lỗ trong hoạt động kinh doanh và thậm chí là phá sản nếu như tình trạng này trở nên nghiêm trọng. Bên cạnh đó, NHNN có thê đưa các ngân hàng vào diện bị kiểm soát đặc biệt nếu các ngân hàng này có tỷ lệ nợ xấu quá lớn.
Điều đó khiến cho uy tín của ngân hàng sẽ bị giảm sút và gây ra thiệt hại vô hình nghiêm trọng mà không thé lường được giá trị đối với ngân hàng. Mặt khác, các ngân hàng sẽ phải tốn nhiều khoản chi phí dé có thé xử lý nếu như nợ xấu phát sinh. Đặc biệt là ngân hàng sẽ mat đi chi phí cơ hội cho những khoản vay mới. Từ đó, dẫn đến giảm hiệu quả chi phí đồng thời làm giảm khả năng sinh lời của mỗi ngân hàng.
Đối với nên kinh tế đất nước: Có thé thấy, khách hàng sẽ có tâm lý hoang mang khi ngân hàng xảy ra RRTD, do đó họ sẽ nhanh chóng di rút tiền khiến cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gap khó khăn. Và nếu ngân hàng phá sản sẽ gây ảnh hưởng đến tình hình sản xuat, kinh doanh của các doanh nghiệp, từ đó dẫn đến suy thoái nền kinh tế nói chung. Chính vì vậy, có thể coi RRTD là một trong những tác nhân gây nên một cơn khủng hoảng tài chính, có thé lan tỏa ra cả khu vực và Thế giới. Như vậy, ta thay rằng đối với các chính sách tiền tệ và công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì RRTD có sự tác động rất lớn.
Thế nên, ngân hàng cần phải kiểm soát RRTD kip thời và nhanh chóng để tránh gây nên “phan ứng day chuyên”, đồng thời thoát khỏi mối đe dọa đến sự phát triển của toàn hệ thống ngân hàng và nên kinh tế đất nước. Phân loại rủi ro tín dụng - Dựa vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì RRTD được chia thành hai loại, đó là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Rui ro giao dịch: Đây là loại rủi ro thường xảy ra do những hạn chế trong quá trình giao dich và thầm định khoản vay, dẫn tới việc đánh giá thông tin khách hàng không hiệu quả, quá trình theo dõi khoản vay trở nên lỏng lẻo. Rui ro giao dịch được chia làm ba loại là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ.
Rui ro danh mục: Rui ro này phát sinh từ danh mục cho vay, thể hiện ở từng nhóm khách hàng cho vay. Rủi ro danh mục bao gồm hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Căn cứ vào tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng thì rủi ro tín dụng sẽ được chia thành ba loại: Rui ro do không trả nợ đúng hạn: Khi phat sinh một hợp đồng tin dụng, khách hàng phải cam kết với ngân hàng về số tiền thanh toán cùng thời gian hoản trả nợ gốc. Nếu đến thời hạn thanh toán mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được khoản nợ đã cho vay thì sẽ xảy ra rủi ro không hoàn trả đúng nợ.
Rui ro do mat khả năng chỉ trả: Rui ro này xảy ra khi khách hàng không còn khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ thanh lý tài sản dam bảo của khách hang dé thu hồi khoản nợ. Rui ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Đây là rủi ro xảy ra dưới nhiều hình thức và xuất hiện ở nhiều lĩnh vực như bất động sản, hoạt động cho vay giữa các ngân hàng và các hoạt động mang tính chất tín dụng như tín dụng thuê mua, cam kết, bảo lãnh. Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng Có thé nói, các chỉ tiêu đánh giá RRTD của các NHTM có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi nó trực tiếp phản ánh RRTD của NHNN. Có ba chỉ tiêu cơ bản phản ánh trực tiếp RRTD của các NHTM là nợ quá hạn, nợ xấu và dự phòng rủi ro tín dụng.
Nợ qua han: Nợ quá hạn phat sinh trong trường hợp khách hàng không có khả năng trả được một phần hay toàn bộ khoản vay cho ngân hàng khi đã đến thời hạn trả nợ theo cam kết. Phụ thuộc vào thời gian quá hạn, khoản nợ này sẽ được xem xét là nợ đủ tiêu chuẩn, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ cần chú ý hay là nợ có khả năng mat vốn,. Nếu ngân hang có chỉ tiêu nợ quá hạn và số khách hàng có nợ quá hạn lớn, nghĩa là ngân hàng đó đang ở mức rủi ro cao. Nợ xấu: Nợ xau được hiểu là các khoản nợ khó đòi khi người vay không thể trả nợ đúng thời hạn như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng (thời gian quá hạn trên 90 ngày thi sẽ bi coi là nợ xấu).
Dựa trên thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng, nợ xấu được chia thành 3 nhóm là nợ đưới chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm 4) và nợ có khả năng mat vốn (nhóm 5). Bên cạnh đó, chỉ tiêu nợ xấu sẽ phản ánh một cách rõ nét chất lượng tín dụng của các NHTM, do vậy mà đây được coi là chỉ tiêu quan trọng nhất, phản ánh RRTD đang ở mức cao. Dự phòng rủi ro tín dung: Day là khoản được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động với mục đích dự phòng cho những tốn thất có thé xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết. Dự phòng rủi ro tín dụng được tính dựa trên số dư nợ gốc của khách hàng và gồm có hai loại là đự phòng cụ thê và dự phòng chung.
Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dung Có thé thấy, RRTD rat đa dang và nó liên quan đến toàn bộ quá trình tín dụng của ngân hàng. Chính vì lẽ đó mà có rất nhiều nguyên nhân gây ra RRTD, có thé kề đến như là rủi ro thị trường, rủi ro từ phía khách hang, do môi trường, hay là những rủi ro từ phía ngân hang mang yếu tố kỹ thuật và yếu tố con người.