Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Tác động của chính sách tự chủ tài chính đại học đến quyết định chọn trường Đại học của học sinh THPT tại thành phố Hà Nội" được thực hiện bởi sinh viên Trần Thị Phương Quỳnh (lớp QH-2019-E Kinh tế CLC 2, Khoa Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội) dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Ngọc Hương Quỳnh, hoàn thành vào tháng 4 năm 2023. Đề tài thuộc lĩnh vực Kinh tế chính trị và Quản lý kinh tế công, tập trung xem xét mối quan hệ giữa chính sách tài chính công trong giáo dục đại học với hành vi kinh tế của người học.
Về bối cảnh thực tiễn, tự chủ đại học là xu thế phát triển tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tính tự quyết của các cơ sở giáo dục đại học. Báo cáo tham luận của Bộ Giáo dục và Đào tạo khi tổng kết triển khai mô hình thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị quyết 77/NQ-CP giai đoạn 2014–2017 cho thấy: nguồn thu của các trường đại học tự chủ đã gia tăng rõ rệt, nhưng cơ cấu nguồn thu còn tiềm ẩn sự thiếu bền vững khi có trên 80% tổng thu dựa vào học phí và quy mô tuyển sinh. Trong khi đó, chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học tại Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,25% đến 0,27% GDP, với định mức chi phí đào tạo trung bình cho một sinh viên (CPĐV) ở mức thấp (khoảng 473 đến 550 USD/sinh viên), cách biệt đáng kể so với mức bình quân của các quốc gia OECD (12.000 USD) hoặc Hoa Kỳ (22.000 USD). Việc cắt giảm chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước theo lộ trình từ 5% đến 15% mỗi năm buộc các cơ sở giáo dục đại học chuyển sang cơ chế tự chủ phải điều chỉnh tăng học phí, tạo ra rào cản chi phí đáng kể và trực tiếp làm biến đổi hành vi lựa chọn trường của học sinh trung học phổ thông.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là đề xuất một số giải pháp đảm bảo việc tiếp cận dịch vụ giáo dục đại học của học sinh THPT và kiến nghị hoàn thiện chính sách tự chủ tài chính trong giáo dục đại học. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Xây dựng cơ sở lý thuyết về tự chủ tài chính đại học và quyết định lựa chọn trường của học sinh.
- Đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố thuộc chính sách tự chủ tài chính trong giáo dục đại học đến quyết định chọn trường đại học của học sinh THPT tại thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp đảm bảo khả năng tiếp cận giáo dục đại học của học sinh và kiến nghị hoàn thiện chính sách tự chủ tài chính đại học.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của chính sách tự chủ tài chính đại học đến quyết định chọn trường đại học của học sinh THPT tại thành phố Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu dữ liệu giai đoạn 2022–2023, trong đó dữ liệu khảo sát sơ cấp được thu thập từ tháng 2/2023 đến tháng 3/2023.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa trên địa bàn thành phố Hà Nội (bao gồm cả khu vực nội thành và ngoại thành).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 3 nhóm yếu tố cấu thành chính sách tự chủ tài chính tác động đến người học, gồm: học phí, chính sách vay vốn tín dụng sinh viên, và chính sách hỗ trợ học bổng.
Câu hỏi nghiên cứu trọng tâm được đặt ra: Cần làm gì để thực hiện chính sách tự chủ tài chính nhằm gia tăng khả năng tiếp cận giáo dục đại học của học sinh?
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng dựa trên việc tích hợp lý thuyết kinh tế công về giáo dục đại học và các mô hình hành vi lựa chọn trường của người học:
- Bản chất kinh tế của dịch vụ giáo dục đại học: Tác giả luận giải giáo dục đại học mang ba đặc tính cơ bản: (i) là dịch vụ có tính đầu tư (người học chuyển dịch từ thụ hưởng hàng hóa công sang chi trả cho một khoản đầu tư tương lai); (ii) dịch vụ có tính ngoại ứng tích cực (tạo ra năng suất lao động xã hội, giảm thiểu tội phạm, nâng cao phúc lợi chung nên vẫn đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước); (iii) dịch vụ có tính bất đối xứng thông tin ("thị trường của niềm tin", người học khó kiểm chứng chất lượng trước khi sử dụng dịch vụ).
- Lý thuyết tự chủ đại học: Khóa luận vận dụng khung phân tích của Hiệp hội các trường đại học châu Âu (European University Association - EUA, Pruvot & Estermann, 2017) với 4 trụ cột: Tự chủ tổ chức bộ máy, Tự chủ tài chính, Tự chủ nhân sự và Tự chủ học thuật (bao gồm 28 chỉ số đánh giá); kết hợp luận điểm của Ulrike Felt & Michaela Glanz (2002) về tương quan giữa mức độ can thiệp của chính phủ với nguồn thu học phí, và Vuokko Kohtamaki (2009) về cơ chế tự chủ tài chính thể chế.
- Mô hình quyết định lựa chọn trường: Tác giả kế thừa định nghĩa của Hossler, Braxton & Coopersmith (1989), cùng mô hình thực nghiệm của Trần Văn Quí & Cao Hào Thi (2009), Lê Thị Mỹ Linh & Khúc Văn Quý (2020), và Nguyễn Thị Minh Hương (2021). Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả gồm 3 nhóm biến độc lập tác động đến 1 biến phụ thuộc (Quyết định chọn trường đại học - Q):
- Nhóm nhân tố học phí (HP): đo lường qua mức học phí, lộ trình tăng học phí, mức trần học phí (Giả thuyết $H_1$).
- Nhóm nhân tố vay vốn tín dụng (VV): đo lường qua đối tượng thụ hưởng, mức vay tối đa, lãi suất cho vay, thời hạn trả nợ (Giả thuyết $H_2$).
- Nhóm nhân tố hỗ trợ học bổng (HT): đo lường qua quỹ học bổng khuyến khích, mức miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập (Giả thuyết $H_3$).
Phương pháp nghiên cứu được tiến hành qua 3 giai đoạn kết hợp định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính sơ bộ: Sử dụng bảng câu hỏi bán cấu trúc đóng/mở qua Google Forms và rà soát hệ thống văn bản pháp quy để hiệu chỉnh mô hình và thang đo nháp.
- Nghiên cứu định lượng chính thức: Thu thập dữ liệu qua phiếu khảo sát sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý). Quy mô mẫu thu về đạt 233 phiếu, sau khi làm sạch còn lại 230 phiếu hợp lệ. Cỡ mẫu này thỏa mãn tiêu chuẩn kiểm định EFA theo Hair và cộng sự (2014) với tỷ lệ tối thiểu 10:1 đối với 10 biến quan sát độc lập.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20 thông qua: thống kê mô tả (Mean, Standard Deviation); kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (yêu cầu hệ số $\alpha \ge 0,6$ và tương quan biến - tổng Corrected Item-Total Correlation $\ge 0,3$); phân tích nhân tố khám phá (EFA) với hệ số KMO từ 0,5 đến 1,0, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê ($Sig. < 0,05$), hệ số tải Factor Loading $\ge 0,5$ và tổng phương sai trích $\ge 50%$; phân tích hồi quy tuyến tính bội với kiểm định F (phân tích ANOVA), hệ số xác định hiệu chỉnh $R^2$, kiểm định đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai (VIF < 10), kiểm định tự tương quan Durbin-Watson (DW quanh giá trị 2), cùng các biểu đồ Histogram, Normal P-P Plot và Scatter Plot để kiểm tra phân phối chuẩn của phần dư.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp điều tra trực tiếp và trực tuyến từ học sinh THPT tại Hà Nội; dữ liệu thứ cấp trích xuất từ các báo cáo quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các đề án tuyển sinh, cổng thông tin điện tử của các trường đại học, và các văn bản quy phạm pháp luật.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về tác động của chính sách tự chủ tài chính giáo dục đại học đến quyết định lựa chọn trường của học sinh
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành 3 nhóm chủ đề: nghiên cứu về tự chủ tài chính giáo dục đại học (Felt & Glanz, 2002; Kohtamaki, 2009; Pruvot & Estermann, 2017); nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường (Trần Văn Quí & Cao Hào Thi, 2009; Lê Thị Mỹ Linh & Khúc Văn Quý, 2020; Nguyễn Thị Minh Hương, 2021); và nghiên cứu về tương tác giữa tự chủ tài chính với cơ hội tiếp cận giáo dục (Trần Thị Thu Hà, 2016; Đặng Thị Lệ Xuân & Lê Huy Đức, 2019; Võ Đức Toàn, 2022). Qua đó, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: phần lớn các đề tài trước đây phân tích tự chủ dưới góc độ quản trị của cơ sở đào tạo, chưa có nhiều nghiên cứu tiếp cận trực diện từ góc nhìn của học sinh THPT trước ngưỡng cửa chọn trường trong bối cảnh các trường công lập tăng mạnh học phí.
Về cơ sở pháp lý, chương này tổng kết tiến trình thể chế hóa quyền tự chủ đại học tại Việt Nam qua các mốc văn bản: Quyết định 153/2003/QĐ-TTg, Luật Giáo dục 2005, Nghị quyết 14/2005/NQ-CP, Thông tư liên tịch 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV, Chỉ thị 296/CT-TTg năm 2010, Nghị quyết 05-NQ/BCSĐ của Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Luật Giáo dục đại học 2012 (Điều 32), và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 (Luật số 34/2018/QH14). Các văn bản này từng bước xác lập quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình trong thu, chi và quản lý tài sản của các trường.
Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu 3 giai đoạn (xây dựng thang đo sơ bộ - khảo sát định lượng - xử lý số liệu). Thang đo nghiên cứu gồm 13 biến quan sát được mã hóa cụ thể:
- Nhóm học phí (HP): HP1 (mức học phí cao gấp 2–3 lần trường chưa tự chủ phù hợp), HP2 (lộ trình tăng học phí 10–15%/năm phù hợp), HP3 (mức giá trần học phí phù hợp từng ngành).
- Nhóm vay vốn tín dụng (VV): VV1 (đối tượng vay vốn rộng), VV2 (mức vay tối đa 4 triệu đồng/tháng hợp lý), VV3 (lãi suất cho vay 0,5% là thấp), VV4 (thời hạn trả khoản nợ đầu tiên sau tốt nghiệp có việc làm 1 năm là phù hợp).
- Nhóm hỗ trợ học bổng (HT): HT1 (ngân sách học bổng khuyến khích học tập đủ lớn), HT2 (quy định mức miễn, giảm học phí phù hợp đối tượng chính sách), HT3 (quy định hỗ trợ chi phí học tập rõ ràng).
- Nhóm quyết định chọn trường (Q): Q1 (mong muốn theo học tại trường X), Q2 (sẽ theo học trường X trong tương lai), Q3 (sẽ giới thiệu cho người thân, bạn bè về trường X).
Quy trình kỹ thuật xử lý dữ liệu trên SPSS 20 được thiết lập với đầy đủ các tiêu chuẩn kiểm định định lượng, bảo đảm tính giá trị và độ tin cậy của mẫu điều tra $N = 230$.
Chương 3: Tác động của chính sách tự chủ tài chính giáo dục đại học tới quyết định chọn trường của học sinh THPT tại thành phố Hà Nội
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP và Nghị quyết 77/NQ-CP. Nghị định 60/2021/NĐ-CP quy định phân loại cơ sở sự nghiệp công lập thành 4 nhóm theo mức độ tự chủ chi thường xuyên và chi đầu tư, đồng thời đặt ra lộ trình 5 năm giảm tối thiểu 2,5% chi hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước hằng năm đối với các đơn vị nhóm 3. Tính đến thời điểm khảo sát, cả nước có 154/170 cơ sở GDĐH công lập thành lập Hội đồng trường (đạt 90,6%); 142/232 trường đủ điều kiện tự chủ theo Luật số 34/2018/QH14. Trong đó, có 32,7% trường tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư (nhóm 1), 13,7% trường tự bảo đảm chi thường xuyên (nhóm 2). Thu nhập bình quân của giảng viên tại các trường tự chủ tăng 20,8% (riêng 23 trường tự chủ theo Nghị quyết 77 tăng 26,1%; năm 2021 có khoảng 1/3 giảng viên đạt thu nhập trên 200 triệu đồng/năm và 6% đạt trên 300 triệu đồng/năm). Nguồn thu tại một số trường như Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Kinh tế Quốc dân đã vượt mốc 1.000 tỷ đồng/năm.
Tuy nhiên, áp lực tự chủ khiến học phí tăng nhanh. Theo Nghị định 81/2021/NĐ-CP, trần học phí đại học công lập tự bảo đảm chi thường xuyên tối đa bằng 2 lần, và tự bảo đảm chi thường xuyên cùng chi đầu tư tối đa bằng 2,5 lần so với trường chưa tự chủ. Dữ liệu thực tế tại Hà Nội phản ánh sự chênh lệch lớn giữa các chương trình đào tạo:
| Tên trường đại học |
Loại hình |
Mức học phí ghi nhận (Năm học 2022–2023) |
Dự kiến năm học 2023–2024 |
| Trường ĐH Ngoại thương |
Công lập tự chủ |
- Đại trà: 22 triệu đồng/năm - Chất lượng cao: 42 triệu đồng/năm - Tiên tiến: 65 triệu đồng/năm - Định hướng nghề nghiệp: 40 triệu đồng/năm - CLC Quản trị khách sạn, Marketing số: 60 triệu đồng/năm |
Tăng 10% (dao động từ 24 đến 73 triệu đồng/năm) |
| Trường ĐH Kinh tế Quốc dân |
Công lập tự chủ |
- Chương trình chuẩn: 15 – 20 triệu đồng/năm - Chương trình đặc thù: 40 – 60 triệu đồng/năm |
Dự kiến tăng 10% (chương trình chuẩn dao động từ 16 đến 23 triệu đồng/năm) |
| Trường ĐH Bách khoa Hà Nội |
Công lập tự chủ |
- Đào tạo chuẩn: 22 – 28 triệu đồng/năm - ELITECH: 40 – 45 triệu đồng/năm - Khoa học dữ liệu & AI, Logistics: 50 – 60 triệu đồng/năm - Đào tạo quốc tế: 55 – 65 triệu đồng/năm - Chương trình TROY: 80 triệu đồng/năm |
Dự kiến mức tăng học phí bình quân 8%/năm |
| Trường ĐH Điện lực |
Công lập tự chủ |
- Khối ngành Kinh tế: 1.000.000 đồng/tháng - Khối ngành Kỹ thuật: 1.000.000 đồng/tháng |
Dự kiến tăng 10% |
Về kết quả khảo sát thực nghiệm ($N = 230$ học sinh THPT):
- Cơ cấu nhân khẩu học: Nam chiếm 44,3%, nữ chiếm 55,7%. Phân bố địa bàn có 66% ở khu vực nội thành và 34% ở ngoại thành Hà Nội. Phân loại theo khối lớp gồm 72% học sinh lớp 12, 17% lớp 11, và 11% lớp 10. Về học lực, 47% đạt loại khá, 32% đạt loại giỏi. Về thu nhập hộ gia đình, nhóm có thu nhập từ 35 đến 50 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ lớn nhất (gần 40%), nhóm trên 50 triệu đồng/tháng chiếm 17%. Đáng chú ý, có trên 90% học sinh bày tỏ nguyện vọng theo học tại các trường đại học công lập. Khối ngành mong muốn học cao nhất là Khối ngành 3 (Kinh doanh, quản lý và pháp luật) với 27,2%, tiếp theo là Khối ngành 5 (Kỹ thuật, công nghệ thông tin...) với 19%, và Khối ngành 7 (Khoa học xã hội, nhân văn, du lịch...) với 17,7%.
- Thống kê mô tả các biến đo lường: Trong nhóm biến học phí, biến HP2 ("Lộ trình tăng học phí 10–15% phù hợp") đạt điểm trung bình thấp nhất với Mean = 2,62 (mức độ trung lập/không đồng tình cao), cho thấy học sinh rất nhạy cảm và lo ngại về tốc độ trượt giá học phí. Trong khi đó, các biến thuộc nhóm hỗ trợ học bổng (HT) và vay vốn (VV) đều đạt mức đánh giá đồng thuận cao ($Mean > 3,8$), phản ánh kỳ vọng của người học vào các chính sách đệm an sinh xã hội khi học phí đại học tăng cao.
Chương 4: Đề xuất một số giải pháp gia tăng tiếp cận giáo dục đại học của học sinh và kiến nghị thực hiện chính sách tự chủ tài chính đại học
Chương 4 đưa ra các dự báo xu hướng tự chủ tài chính giáo dục đại học và hệ thống hóa giải pháp theo ba hướng:
- Giải pháp về học phí: Các trường cần xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật chuẩn xác cho từng chương trình đào tạo để xác định mức thu học phí hợp lý; công khai minh bạch lộ trình tăng học phí toàn khóa ngay từ thông báo tuyển sinh, tránh tình trạng tăng đột biến vượt quá mức chi trả của đa số hộ gia đình.
- Giải pháp về học bổng và hỗ trợ tài chính: Thực hiện nghiêm túc quy định trích lập Quỹ hỗ trợ học sinh, sinh viên theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP; đa dạng hóa nguồn tài trợ học bổng thông qua hợp tác doanh nghiệp; mở rộng diện xét học bổng khuyến khích và miễn giảm học phí cho người học có hoàn cảnh khó khăn.
- Kiến nghị hoàn thiện thể chế: Đề xuất Nhà nước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, đồng bộ hóa giữa Luật Giáo dục đại học với Luật Quản lý tài sản công và Luật Đầu tư công; không cắt giảm ngân sách hỗ trợ một cách cơ học; cải tiến chính sách tín dụng đào tạo theo hướng nới lỏng điều kiện vay vốn, nâng mức trần vay tối đa và kéo dài thời gian ân hạn trả nợ sau khi sinh viên tốt nghiệp có việc làm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã lượng hóa và làm rõ bức tranh thực trạng thực hiện chính sách tự chủ tài chính giáo dục đại học tại Việt Nam, đặc biệt trên địa bàn Hà Nội. Các kết quả cụ thể bao gồm:
- Hệ thống hóa hệ thống dữ liệu về mức trần học phí theo Nghị định 81/2021/NĐ-CP và thống kê học phí thực tế của các trường đại học công lập trọng điểm tại Hà Nội (mức thu các chương trình chất lượng cao, tiên tiến phổ biến từ 40 đến 80 triệu đồng/năm, mức tăng bình quân dự kiến từ 8% đến 15%/năm).
- Xác định đặc tính tâm lý và hành vi của người học: dù học phí tăng cao gấp 2 đến 3 lần, có hơn 90% học sinh THPT tại Hà Nội vẫn ưu tiên chọn trường đại học công lập, nhưng có sự phân hóa mạnh mẽ về khả năng tiếp cận dựa trên thu nhập hộ gia đình. Biến số lộ trình tăng học phí (HP2, Mean = 2,62) là điểm nghẽn lớn nhất gây tâm lý bất an cho người học.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Công trình khắc phục khoảng trống nghiên cứu bằng cách kết nối trực tiếp các văn bản pháp quy mới ban hành (Nghị định 60/2021/NĐ-CP và Nghị định 81/2021/NĐ-CP) với dữ liệu khảo sát thực tế tại thời điểm đầu năm 2023. Đề tài chuyển dịch góc độ tiếp cận từ quản trị đơn vị đào tạo sang góc nhìn của khách thể chịu tác động trực tiếp là học sinh THPT, cung cấp luận cứ thực chứng về vai trò bù đắp của chính sách vay vốn và học bổng nhằm duy trì công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi triển khai:
- Mẫu khảo sát quy mô $N = 230$ được thu thập theo phương pháp thuận tiện và tập trung trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong đó học sinh nội thành chiếm tới 66% và nhóm có mức thu nhập hộ gia đình khá/cao (từ 35 triệu đồng/tháng trở lên) chiếm tỷ trọng áp đảo (trên 56%). Do đó, tính đại diện của mẫu chưa bao quát được học sinh tại các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa – nơi chịu tổn thương lớn nhất khi các trường đại học tăng học phí.
- Số lượng biến quan sát trong mô hình mới dừng lại ở 10 biến độc lập thuộc 3 khía cạnh tài chính (học phí, tín dụng, học bổng), chưa tích hợp đồng thời các yếu tố phi tài chính có tính tương tác mạnh (như danh tiếng trường, cơ hội việc làm sau tốt nghiệp, phương thức truyền thông tuyển sinh).
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng địa bàn khảo sát sang các tỉnh thuộc nhiều vùng kinh tế khác nhau, gia tăng quy mô mẫu khảo sát đối với các hộ gia đình có mức thu nhập trung bình và thấp, đồng thời bổ sung các biến kiểm soát hoặc biến điều tiết về đặc điểm gia đình và học lực để đánh giá chuyên sâu hơn rào cản tiếp cận giáo dục.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế công, Quản lý công và Quản lý giáo dục khi nghiên cứu về kinh tế giáo dục đại học và chính sách công.
- Ban giám hiệu, phòng đào tạo và hội đồng tuyển sinh của các trường đại học công lập tự chủ trong việc xây dựng khung học phí, thiết kế lộ trình tăng học phí và hoạch định chính sách học bổng, tín dụng nội bộ nhằm bảo đảm chỉ tiêu tuyển sinh.
- Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính trong việc theo dõi, đánh giá tác động xã hội của Nghị định 60/2021/NĐ-CP và Nghị định 81/2021/NĐ-CP.
- Phần đáng tham khảo nhất: Bảng tổng hợp mức thu học phí thực tế của các trường đại học tại Hà Nội và hệ thống cơ sở lý luận về tính chất kinh tế của dịch vụ giáo dục đại học (tính đầu tư, ngoại ứng, bất đối xứng thông tin).
Câu hỏi thường gặp
1. Theo số liệu tổng kết được trích dẫn trong khóa luận, cơ cấu nguồn thu của các trường đại học tự chủ tại Việt Nam có đặc điểm gì nổi bật?
Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ ra rằng cơ cấu nguồn thu của các trường đại học tự chủ còn thiếu bền vững khi có trên 80% nguồn thu phụ thuộc vào việc tăng học phí và tăng quy mô tuyển sinh. Trong khi đó, nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và các dịch vụ khác chiếm tỷ trọng rất thấp; chi ngân sách nhà nước cho GDĐH chỉ ở mức 0,25% đến 0,27% GDP.
2. Mức trần học phí đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ tài chính được quy định như thế nào theo Nghị định số 81/2021/NĐ-CP?
Nghị định 81/2021/NĐ-CP quy định: cơ sở GDĐH công lập tự bảo đảm chi thường xuyên được thu học phí tối đa bằng 2 lần mức trần của trường chưa tự chủ; cơ sở tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư được thu tối đa bằng 2,5 lần mức trần tương ứng với từng khối ngành và năm học. Đối với các chương trình đào tạo đạt kiểm định chất lượng, trường được tự xác định mức thu học phí trên cơ sở định mức kinh tế – kỹ thuật do trường ban hành.
3. Kết quả khảo sát thực nghiệm ghi nhận đặc điểm gì về thu nhập hộ gia đình và nguyện vọng chọn loại trường của học sinh THPT tại Hà Nội?
Trong 230 mẫu hợp lệ, nhóm học sinh có mức thu nhập hộ gia đình từ 35 đến 50 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (gần 40%), nhóm trên 50 triệu đồng/tháng chiếm 17%. Về định hướng chọn trường, có hơn 90% học sinh tham gia khảo sát mong muốn theo học tại các trường đại học công lập, bất chấp lộ trình tăng học phí.
4. Biến quan sát nào trong mô hình khảo sát nhận được mức độ đồng thuận thấp nhất từ học sinh?
Biến HP2 ("Lộ trình tăng học phí 10–15% phù hợp với bạn") có giá trị trung bình thấp nhất trong toàn bộ thang đo, đạt $Mean = 2,62$ (rơi vào khoảng đánh giá trung lập/không đồng ý). Điều này chứng minh học sinh có tâm lý e ngại rõ rệt trước tốc độ gia tăng học phí hằng năm từ 10% đến 15% của các trường đại học tự chủ.
5. Lộ trình giao quyền tự chủ tài chính và cắt giảm hỗ trợ ngân sách nhà nước theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP được quy định ra sao?
Nghị định 60/2021/NĐ-CP quy định sau mỗi thời kỳ ổn định 5 năm, cơ quan quản lý có trách nhiệm rà soát, nâng mức độ tự chủ của các đơn vị nhóm 3 bằng cách chuyển ít nhất 30% số lượng đơn vị sang nhóm có mức tự chủ cao hơn liền kề. Đồng thời, hằng năm các đơn vị này phải thực hiện giảm tối thiểu 2,5% chi hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trần Thị Phương Quỳnh đã phản ánh toàn diện thực trạng thực thi chính sách tự chủ tài chính đại học tại Việt Nam và phân tích thực nghiệm tác động của chính sách này đến quyết định chọn trường của học sinh THPT trên địa bàn Hà Nội. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù học sinh vẫn có xu hướng lựa chọn trường công lập rất cao (trên 90%), lộ trình tăng học phí từ 10% đến 15% mỗi năm tạo ra áp lực tâm lý và rào cản chi phí đáng kể đối với người học. Từ đó, công trình khẳng định tầm quan trọng cấp thiết của việc xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật minh bạch, đồng thời kiện toàn chính sách tín dụng đào tạo và quỹ học bổng để bảo đảm tính công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học.