Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cơ sở giáo dục đại học công lập là đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập, thuộc sở hữu nhà nước và được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học. Trước đây, toàn bộ hoạt động của các cơ sở này đều dựa vào sự bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo cơ chế bao cấp. Tuy nhiên, trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng xu hướng "xã hội hóa" và "doanh nghiệp hóa" đơn vị sự nghiệp công lập, cơ chế bao cấp dần bộc lộ nhiều điểm hạn chế, tạo tâm lý trì trệ và ỷ lại. Việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính trở thành xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tối ưu hóa nguồn lực và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động tự chủ tài chính tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển:

  • Giai đoạn hình thành và thí điểm: Thông tư liên tịch số 21/2003/TTLT/BTC-BGDĐT-BNV, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP (được hướng dẫn bởi Thông tư số 71/2006/TT-BTC và Thông tư số 113/2007/TT-BTC), Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động giai đoạn 2014–2017, và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP.
  • Giai đoạn hoàn thiện khung khổ hiện hành: Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/06/2021 quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập (hướng dẫn bởi Thông tư số 56/2022/TT-BTC ngày 16/09/2022), Nghị định số 81/2021/NĐ-CP ngày 27/08/2021 và Nghị định sửa đổi, bổ sung số 97/2023/NĐ-CP ngày 31/12/2023 về cơ chế thu, quản lý học phí, cùng với Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).

Mặc dù đã hình thành hành lang pháp lý tương đối đồng bộ, quá trình triển khai thực tế vẫn phát sinh nhiều bất cập do sự thiếu thống nhất giữa các quy định chuyên ngành, đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu toàn diện để hoàn thiện chế độ pháp lý này.

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ lý luận và thực trạng pháp luật, khóa luận hướng tới việc xác định các giải pháp hoàn thiện chế độ pháp lý về tự chủ tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học công lập và đề xuất các biện pháp bảo đảm thực hiện khả thi.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến chế độ pháp lý về tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập.
  2. Làm rõ nội dung và đánh giá thực trạng chế độ pháp lý về tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập.
  3. Xác định quan điểm mang tính nguyên tắc để hoàn thiện chế độ pháp lý về tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập.
  4. Đề ra các giải pháp hoàn thiện chế độ pháp lý về tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập.
  5. Đề ra các biện pháp bảo đảm thực hiện chế độ pháp lý về tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập.
  • Phạm vi nghiên cứu: Các quy định của pháp luật hiện hành gắn với việc thực hiện quyền tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập tại Việt Nam, phục vụ việc đánh giá thực trạng và tìm giải pháp khắc phục các hạn chế pháp lý.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý:

  • Cơ sở phương pháp luận: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước về xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là Nghị quyết số 19-NQ/TW, Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 29-NQ/TW).
  • Khung khái niệm và tài liệu học thuật: Khái niệm cơ sở giáo dục đại học công lập và tự chủ đại học theo học giả quốc tế (Neeta Baporikar, 2014), cùng các công trình nghiên cứu trong nước của Trần Đức Cân (2012), Vũ Thị Thanh Thủy (2012), Nguyễn Thu Hương (2014), Nguyễn Minh Tuấn (2015), Trương Thị Hiền (2017), Lê Văn Dũng (2020), Nguyễn Thị Thu Hà (2021), Phạm Thị Giang Thu và Nguyễn Ngọc Lương (2020).
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018); Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Ngân sách nhà nước năm 2015; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) năm 2020; Nghị định số 60/2021/NĐ-CP; Nghị định số 81/2021/NĐ-CP; Nghị định số 97/2023/NĐ-CP; Nghị định số 99/2019/NĐ-CP; Nghị định số 04/2021/NĐ-CP; Thông tư số 56/2022/TT-BTC.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Chương I: Sử dụng phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải và so sánh nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận của chế độ tự chủ và tự chủ tài chính.
  • Chương II: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, bình luận, đánh giá và so sánh để nghiên cứu nội dung pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
  • Chương III: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để xây dựng định hướng, đề xuất các kiến nghị lập pháp và giải pháp bảo đảm thực thi.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo thống kê chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Thống kê; báo cáo chuyên đề của các trường đại học (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM...); và các bài viết phân tích trên các tạp chí khoa học pháp lý, kinh tế chuyên ngành.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số vấn đề lý luận về tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập

Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận về thiết chế cơ sở giáo dục đại học công lập và bản chất pháp lý của quyền tự chủ tài chính.

Đặc điểm pháp lý của cơ sở giáo dục đại học công lập:

  1. Là đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, đầu tư và quản lý: Cơ quan chủ quản có thể là Bộ, cơ quan ngang Bộ (ví dụ: Bộ Xây dựng quản lý Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh; Ngân hàng Nhà nước quản lý Học viện Ngân hàng; Ủy ban Dân tộc quản lý Học viện Dân tộc) hoặc các tổ chức chính trị - xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý Trường Đại học Công đoàn; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam quản lý Học viện Phụ nữ Việt Nam; Đoàn TNCS Hồ Chí Minh quản lý Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam).
  2. Có tư cách pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự: Có tài sản độc lập, có con dấu, tài khoản riêng và chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản của mình. Khóa luận phân biệt rõ mô hình "trường đại học/học viện" (đơn vị đào tạo chuyên ngành, có Hội đồng trường, Ban Giám hiệu) và mô hình "đại học" (tập hợp nhiều trường đại học thành viên có tư cách pháp nhân riêng như ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM, Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách khoa Hà Nội).
  3. Thành lập và hoạt động nhằm phục vụ xã hội, phục vụ Nhà nước: Mục tiêu lợi nhuận không phải ưu tiên hàng đầu; bảo đảm tính công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục đại học.
  4. Hoạt động gắn liền với nhu cầu thị trường lao động: Chịu sự tác động trực tiếp của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đòi hỏi điều chỉnh chỉ tiêu và chương trình đào tạo linh hoạt.
  5. Giá trị đem lại là con người và các sản phẩm khoa học: Đầu vào và đầu ra của quá trình đào tạo đều là con người.

Bản chất và nội dung quyền tự chủ tài chính:

  • Khái niệm quyền tự chủ theo khoản 14 Điều 4 Luật Giáo dục đại học bao gồm 3 khía cạnh: tự chủ về tổ chức và quản lý, tự chủ về tài chính và tài sản, tự chủ về học thuật. Trong đó, tự chủ tài chính giữ vai trò trung tâm, là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho hai quyền tự chủ còn lại.
  • Tự chủ tài chính bao gồm 3 nội dung cốt lõi:
    • Tự chủ trong quản lý và khai thác nguồn thu: Đa dạng hóa nguồn thu từ học phí, dịch vụ đào tạo, chuyển giao khoa học công nghệ, tài trợ xã hội.
    • Tự chủ trong quản lý chi tiêu: Cân đối giữa chi thường xuyên (lương, quản lý, chuyên môn) và chi không thường xuyên (mua sắm, đầu tư thiết bị, NCKH).
    • Tự chủ trong quản lý, sử dụng tài sản và quỹ đơn vị: Có quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt hợp pháp đối với tài sản và quỹ, hạn chế sự can thiệp hành chính từ đơn vị chủ quản.
  • Tác động hai mặt của tự chủ tài chính:
    • Tích cực: Nâng cao chất lượng đào tạo, cải thiện thu nhập cho người lao động, gia tăng tính cạnh tranh lành mạnh và hỗ trợ tái cơ cấu ngân sách nhà nước cho an sinh xã hội.
    • Tiêu cực: Tạo áp lực tăng học phí đè nặng lên người học, nguy cơ thương mại hóa giáo dục và làm suy giảm tính công bằng xã hội nếu cơ sở đào tạo chạy theo lợi nhuận.

Chương II: Thực trạng pháp luật về tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập và thực tiễn thực hiện

Chương II đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh cơ chế tự chủ tài chính, đồng thời đánh giá toàn diện những kết quả và hạn chế phát sinh trong thực tiễn áp dụng.

1. Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành

Theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP, cơ sở giáo dục đại học công lập được phân thành 4 nhóm dựa trên mức tự bảo đảm chi thường xuyên:

Nhóm đơn vị Mức độ tự bảo đảm chi thường xuyên Tiêu chí và đặc điểm tài chính
Nhóm 1 $\ge 100%$ chi thường xuyên và tự bảo đảm chi đầu tư Chi đầu tư $\ge$ mức trích khấu hao và hao mòn tài sản cố định; giá dịch vụ tính đủ chi phí và có tích lũy.
Nhóm 2 $\ge 100%$ chi thường xuyên Chưa tự bảo đảm chi đầu tư từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc các nguồn hợp pháp khác.
Nhóm 3 Từ $10%$ đến dưới $100%$ chi thường xuyên Chia thành 3 phân nhóm: $70%$ đến dưới $100%$; $30%$ đến dưới $70%$; $10%$ đến dưới $30%$.
Nhóm 4 Dưới $10%$ chi thường xuyên Đơn vị do Nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc phần lớn chi thường xuyên; không có nguồn thu sự nghiệp đáng kể.

Cơ chế phân phối kết quả tài chính trong năm: Chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên giao tự chủ được phân bổ bắt buộc theo thứ tự ưu tiên: (1) Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (trích tối thiểu từ 10% đến 25% tùy nhóm); (2) Quỹ bổ sung thu nhập; (3) Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi; (4) Quỹ hỗ trợ sinh viên. Nhóm 4 không phải trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp mà ưu tiên bổ sung thu nhập cho người lao động.

Bốn điểm nổi bật của khung pháp lý hiện hành:

  1. Quy định 4 điều kiện giao quyền tự chủ (Điều 29 NĐ 60/2021/NĐ-CP): Thành lập Hội đồng trường/Hội đồng Đại học và đạt kiểm định chất lượng; ban hành đầy đủ quy chế nội bộ; phân quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình; xây dựng đề án tự chủ và công khai điều kiện bảo đảm chất lượng, tỷ lệ việc làm.
  2. Đổi mới chi trả tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW: Nhóm 1 và 2 tự chi trả lương tăng thêm, tiến tới trả lương theo kết quả hoạt động như doanh nghiệp (mô hình Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ từ 01/07/2024); Nhóm 3 và 4 trích từ Quỹ bổ sung thu nhập và nguồn cải cách tiền lương trước khi nhận hỗ trợ từ NSNN.
  3. Lộ trình nâng mức tự chủ (Điều 35 NĐ 60/2021/NĐ-CP): Yêu cầu chuyển đổi ít nhất 30% đơn vị giữa các nhóm và giảm tối thiểu 2,5% chi hỗ trợ trực tiếp từ NSNN hàng năm; cấm hạ mức tự chủ đối với nhóm 1 và nhóm 2 sau giai đoạn ổn định 5 năm.
  4. Mở rộng quyền liên doanh, liên kết (Điều 25 NĐ 60/2021/NĐ-CP): Cho phép thành lập hoặc không thành lập pháp nhân mới để cung cấp dịch vụ công theo nhu cầu xã hội.

Bốn điểm thiếu sót, mâu thuẫn pháp luật:

  1. Bất cập trong thế chấp tài sản công vay vốn ngân hàng: Điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị định 60/2021/NĐ-CP dẫn chiếu khoản 5 Điều 54 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 cấm thế chấp tài sản hình thành từ NSNN. Do phần lớn tài sản của các trường có nguồn gốc ngân sách, quy định này tước bỏ công cụ thế chấp vay vốn phát triển cơ sở vật chất.
  2. Thiếu đồng bộ về trích khấu hao tài sản cố định: Điều 61 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công yêu cầu trích khấu hao tài sản kinh doanh, liên kết vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nhưng Nghị định 60/2021/NĐ-CP không quy định lập quỹ này đối với đơn vị nhóm 4, tạo khoảng trống pháp lý về quản lý dòng tiền khấu hao.
  3. Vai trò của Hội đồng trường còn mang tính hình thức: Tồn tại xung đột lợi ích khi Hiệu trưởng vừa là thành viên đương nhiên tham gia thành lập Hội đồng trường, vừa chịu sự giám sát của Hội đồng trường. Tỷ lệ thành viên nội bộ trong trường chiếm hơn 70%; Nghị định 60/2021/NĐ-CP chưa quy định thẩm quyền cụ thể của Hội đồng trường trong việc giám sát dự toán, quyết toán tài chính.
  4. Quy định đầu tư theo phương thức PPP chưa phù hợp (Luật PPP năm 2020): Quy mô tổng mức đầu tư tối thiểu 100 tỷ đồng (khoản 2 Điều 4) là quá cao đối với các dự án giáo dục đại học (ví dụ: tại ĐHQG TP.HCM, 8/15 dự án kêu gọi đầu tư có quy mô từ 12 đến 70 tỷ đồng đều không thể triển khai); đồng thời ngành giáo dục chưa có văn bản hướng dẫn thi hành PPP như ngành giao thông vận tải.

2. Thực tiễn áp dụng pháp luật

Thành tựu đạt được qua các số liệu thống kê:

  • Tỷ lệ trường tự chủ: Cả nước có 141/232 trường đại học công lập đủ điều kiện tự chủ theo Luật Giáo dục đại học. Các lý do chưa đủ điều kiện gồm: 18,53% chưa kiểm định chất lượng, 7,5% chưa thành lập Hội đồng trường, còn lại do thiếu quy chế hoặc chưa hoàn tất chuyển đổi mô hình.
  • Phân loại mức độ tự chủ: 32,76% trường thuộc nhóm 1; 13,70% thuộc nhóm 2; 16,38% chuẩn bị tự bảo đảm chi thường xuyên; chỉ có 3,45% trường thuộc nhóm 4 duy trì nhận ngân sách hoàn toàn.
  • Cải thiện thu nhập người lao động: Thu nhập bình quân của giảng viên tăng 20,8%, cán bộ quản lý tăng 18,7%. Tại 23 trường tự chủ theo Nghị quyết 77/NQ-CP giai đoạn 2018–2021: thu nhập giảng viên tăng 26,1%, cán bộ quản lý tăng 24,5%. Giảng viên có thu nhập trên 200 triệu đồng/năm tăng từ 10,4% lên 31,34%; thu nhập trên 300 triệu đồng/năm tăng từ 0,75% lên 5,07%; tỷ lệ giảng viên thu nhập dưới 100 triệu đồng/năm giảm từ 26,2% xuống 12,7%.
  • Hợp tác quốc tế: Tính đến tháng 12/2021, cả nước có 408 chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài (các trường tự chủ phê duyệt 186 chương trình gồm 124 trình độ đại học, 58 thạc sĩ, 04 tiến sĩ).

Hạn chế, tồn tại trong thực tiễn:

  1. Học phí tăng cao tạo gánh nặng, chưa tương xứng với chất lượng:
    • Theo Nghị định 81/2021/NĐ-CP và Nghị định 97/2023/NĐ-CP, trần học phí trường tự chủ gấp 2 đến 2,5 lần trường chưa tự chủ (mức 2,4 – 6,1 triệu đồng/tháng năm học 2023–2024; tăng lên 3,4 – 8,75 triệu đồng/tháng từ năm học 2024–2025). Mức học phí này vượt quá khả năng chi trả của phần lớn người dân khi thu nhập bình quân đầu người ước tính năm 2024 chỉ đạt 7.343.000 đồng/tháng.
    • Cơ sở vật chất không đáp ứng chuẩn diện tích đất từ 55 – 80m²/sinh viên tại khu vực nội đô:
Cơ sở giáo dục đại học Diện tích đất thực tế trên một sinh viên So với tiêu chuẩn quy định ($55 - 80\text{ m}^2/\text{SV}$)
Trường Đại học Luật Hà Nội $0,7\text{ m}^2/\text{sinh viên}$ Thấp hơn khoảng 78 - 114 lần
Trường Đại học Xây dựng $0,8\text{ m}^2/\text{sinh viên}$ Thấp hơn khoảng 68 - 100 lần
Trường Đại học Ngoại thương $1,0\text{ m}^2/\text{sinh viên}$ Thấp hơn khoảng 55 - 80 lần
  • Cơ cấu chi tiêu sự nghiệp chưa hợp lý: Các trường tập trung hơn 50% tổng chi sự nghiệp cho nhân sự (giai đoạn 2016–2021), nguồn kinh phí tái đầu tư cho trang thiết bị, giảng đường và thư viện số còn rất hạn chế.
  1. Vi phạm chỉ tiêu tuyển sinh: Áp lực bù đắp thiếu hụt tài chính khiến các trường "chạy theo số lượng". Năm 2022, Thanh tra Bộ GDĐT đã xử phạt vi phạm hành chính 78 trường đại học tuyển sinh vượt chỉ tiêu (theo Nghị định số 04/2021/NĐ-CP xử phạt khi vượt 3% chỉ tiêu, nghiêm ngặt hơn mức 5% của Nghị định 138/2013/NĐ-CP trước đây).
  2. Nhầm lẫn giữa "tự chủ tài chính" và "tự túc kinh phí": Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục đại học tại Việt Nam còn rất thấp. Năm 2020, dự toán NSNN cho giáo dục đại học là 16.703 tỷ đồng (xấp xỉ 330 USD/sinh viên), thực chi chỉ đạt 11.327 tỷ đồng (chiếm 0,65% tổng chi NSNN, 4,06% chi ngân sách giáo dục và 0,18% GDP; chỉ bằng 1/5 đến 1/6 mức trung bình của các nước OECD và ASEAN). Khi chuyển sang tự chủ, nhiều trường bị cắt giảm ngân sách ngay lập tức (như trường hợp Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM năm 2022), gây khủng hoảng nguồn lực thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội.

Chương III: Hoàn thiện pháp luật về tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập và các biện pháp bảo đảm thực hiện

Chương III đề xuất hệ thống định hướng, giải pháp lập pháp và các biện pháp bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả cơ chế tự chủ tài chính:

Định hướng hoàn thiện:

  • Quán triệt đường lối của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
  • Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa Luật Giáo dục đại học với Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
  • Bảo đảm nguyên tắc tự chủ gắn liền với trách nhiệm giải trình và công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục.

Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:

  1. Sửa đổi quy định về thế chấp tài sản công: Bổ sung cơ chế cho phép các trường đại học công lập nhóm 1 và nhóm 2 được thế chấp tài sản gắn liền với đất hoặc quyền khai thác tài sản công hình thành từ NSNN để vay vốn tín dụng đầu tư cơ sở vật chất, đi kèm quy chế kiểm soát rủi ro tài chính chặt chẽ.
  2. Hoàn thiện quy định về trích lập quỹ và khấu hao tài sản: Sửa đổi Điều 61 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và Nghị định 60/2021/NĐ-CP nhằm quy định rõ cơ chế quản lý số tiền trích khấu hao tài sản cố định từ hoạt động dịch vụ của đơn vị nhóm 4.
  3. Nâng cao thực quyền của Hội đồng trường: Sửa đổi Luật Giáo dục đại học và Nghị định 99/2019/NĐ-CP theo hướng phân định rõ ranh giới quyền lực giữa Hội đồng trường (hoạch định, giám sát tài chính) và Ban Giám hiệu (điều hành tác nghiệp); giảm tỷ lệ thành viên nội bộ xuống dưới 50% để tăng tính khách quan; quy định bắt buộc Hội đồng trường phải thông qua dự toán và báo cáo quyết toán tài chính hàng năm.
  4. Điều chỉnh khung pháp lý PPP trong giáo dục đại học: Sửa đổi điểm b khoản 2 Điều 4 Luật PPP năm 2020 theo hướng hạ quy mô tổng mức đầu tư tối thiểu của dự án PPP trong giáo dục đại học xuống mức 10 – 20 tỷ đồng; Bộ Giáo dục và Đào tạo cần sớm ban hành Thông tư hướng dẫn quy trình triển khai hợp đồng PPP đặc thù trong lĩnh vực GDĐT.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện:

  • Đổi mới cơ chế cấp phát ngân sách nhà nước: Chuyển từ cấp phát bình quân sang cơ chế Nhà nước đặt hàng đào tạo và giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học dựa trên kết quả đầu ra, bảo đảm duy trì tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục đại học đạt mức tối thiểu tương đương các nước trong khu vực.
  • Tăng cường kiểm soát và trách nhiệm giải trình: Xây dựng hệ thống kiểm toán nội bộ độc lập tại các cơ sở giáo dục đại học; thực hiện công khai, minh bạch toàn bộ các khoản thu - chi, mức học phí và tỷ lệ việc làm của sinh viên trên cổng thông tin điện tử.
  • Hỗ trợ người học thông qua chính sách tín dụng sinh viên: Mở rộng hạn mức và đối tượng vay vốn ưu đãi học tập, giảm thiểu tác động tiêu cực của lộ trình tăng học phí đối với sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu từ văn bản:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về tự chủ tài chính tại Việt Nam với 141/232 trường đủ điều kiện tự chủ, trong đó nhóm 1 chiếm 32,76%, nhóm 2 chiếm 13,70%, nhóm 3 chuẩn bị tự bảo đảm chiếm 16,38% và nhóm 4 chiếm 3,45%.
  • Phân tích chi tiết mức tăng thu nhập bình quân của giảng viên (20,8%) và cán bộ quản lý (18,7%), đặc biệt tại 23 trường thí điểm Nghị quyết 77/NQ-CP có tỷ lệ giảng viên thu nhập trên 200 triệu đồng/năm tăng gấp 3 lần (từ 10,4% lên 31,34%).
  • Chỉ rõ thực trạng mất cân đối nguồn lực: chi ngân sách cho GDĐH chỉ chiếm 4,33% – 4,74% chi ngân sách giáo dục (chiếm 0,18% GDP thực chi năm 2020); diện tích đất nội đô quá thấp ($0,7 - 1,0\text{ m}^2/\text{SV}$); xử phạt 78 trường tuyển sinh vượt chỉ tiêu năm 2022.

Giải pháp đề xuất: Khóa luận đã đưa ra 4 nhóm kiến nghị lập pháp cụ thể (sửa đổi quy định thế chấp tài sản công tại Luật QLSDTSC, hoàn thiện quy định trích khấu hao đơn vị nhóm 4, chuẩn hóa thẩm quyền Hội đồng trường, hạ quy mô trần dự án PPP xuống dưới 100 tỷ đồng) cùng hệ thống biện pháp bảo đảm về đặt hàng ngân sách, kiểm toán nội bộ và tín dụng sinh viên.

Đóng góp của khóa luận:

  • Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ bản chất pháp lý của quyền tự chủ tài chính trong mối quan hệ hữu cơ với tự chủ tổ chức và tự chủ học thuật, xác lập vị trí trung tâm của tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục đại học.
  • Về mặt thực tiễn: Kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình trước đây, khóa luận cập nhật và phân tích chuyên sâu các văn bản pháp luật mới nhất (Nghị định 60/2021/NĐ-CP, Nghị định 81/2021/NĐ-CP, Nghị định 97/2023/NĐ-CP), phát hiện các điểm nghẽn pháp lý liên ngành giữa Luật Giáo dục đại học, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và Luật PPP.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tiếp cận dưới góc độ pháp lý và khoa học Luật Tài chính thông qua phân tích quy phạm và dữ liệu thứ cấp được công bố; chưa thực hiện khảo sát định lượng sâu trên diện rộng đối với từng nhóm ngành đào tạo đặc thù (như y dược, văn hóa nghệ thuật, sư phạm).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá tác động định lượng của chính sách cải cách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW đối với nguồn thu sự nghiệp của các trường sau năm 2024; nghiên cứu so sánh kinh nghiệm pháp lý quốc tế về mô hình hợp tác công tư (PPP) và cơ chế quỹ phát triển trường đại học tại các quốc gia thuộc khối OECD và ASEAN.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Giảng viên, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính, Quản lý công và Quản trị đại học; các nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính.
  • Nội dung có giá trị:
    • Hệ thống tiêu chí phân loại 4 nhóm tự chủ tài chính và cơ chế phân phối các quỹ theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP.
    • Phân tích các mâu thuẫn pháp lý thực định giữa Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật PPP với quyền tự chủ đại học.
    • Bảng tổng hợp số liệu thực chứng về mức chi ngân sách, thu nhập giảng viên và diện tích đất đào tạo tại các trường đại học công lập Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghị định số 60/2021/NĐ-CP phân loại mức độ tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập thành những nhóm nào?
Nghị định 60/2021/NĐ-CP phân chia thành 4 nhóm dựa trên mức độ tự bảo đảm chi thường xuyên: Nhóm 1 (Tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, tỷ lệ $\ge 100%$); Nhóm 2 (Tự bảo đảm chi thường xuyên $\ge 100%$, chưa tự bảo đảm chi đầu tư); Nhóm 3 (Tự bảo đảm một phần chi thường xuyên từ $10%$ đến dưới $100%$, chia nhỏ thành 3 phân nhóm: 70–<100%, 30–<70%, 10–<30%); Nhóm 4 (Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, mức tự bảo đảm dưới $10%$).

2. Điểm nghẽn lớn nhất trong quy định về vay vốn tín dụng của các trường đại học công lập tự chủ là gì?
Theo điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị định 60/2021/NĐ-CP và khoản 5 Điều 54 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, các trường không được sử dụng tài sản công do Nhà nước giao hoặc đầu tư từ NSNN để thế chấp vay vốn. Do phần lớn tài sản hiện có đều hình thành từ ngân sách, các trường thiếu tài sản hợp pháp để thực hiện biện pháp bảo đảm nghĩa vụ với tổ chức tín dụng.

3. Vì sao quy định về đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) hiện nay khó áp dụng trong giáo dục đại học?
Theo điểm b khoản 2 Điều 4 Luật PPP năm 2020, quy mô tổng mức đầu tư tối thiểu của dự án PPP trong lĩnh vực giáo dục là 100 tỷ đồng. Mức quy mô này quá lớn so với nhu cầu thực tế của các trường đại học (như tại ĐHQG TP.HCM có 8/15 dự án kêu gọi chỉ có mức vốn từ 12 đến 70 tỷ đồng nên bị đình trệ). Ngoài ra, lĩnh vực giáo dục đại học vẫn chưa có văn bản thông tư hướng dẫn triển khai chi tiết như các ngành hạ tầng giao thông.

4. Khóa luận chỉ ra thực trạng mâu thuẫn giữa mức tăng học phí và điều kiện cơ sở vật chất qua những dẫn chứng nào?
Theo Nghị định 81/2021/NĐ-CP và Nghị định 97/2023/NĐ-CP, trần học phí trường tự chủ tăng gấp 2 đến 2,5 lần (đạt 2,4 – 6,1 triệu đồng/tháng năm 2023–2024 và lên tới 3,4 – 8,75 triệu đồng/tháng từ năm 2024–2025), tiệm cận thu nhập bình quân đầu người (7.343.000 đồng/tháng năm 2024). Tuy nhiên, điều kiện cơ sở vật chất không tương xứng: diện tích đất bình quân tại nhiều trường nội đô chỉ đạt $0,7\text{ m}^2/\text{SV}$ (ĐH Luật Hà Nội), $0,8\text{ m}^2/\text{SV}$ (ĐH Xây dựng), $1\text{ m}^2/\text{SV}$ (ĐH Ngoại thương), thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn quy định từ $55 - 80\text{ m}^2/\text{SV}$.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Chu Yến Nhi đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá sâu sắc thực trạng pháp luật về tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị định số 60/2021/NĐ-CP. Công trình chỉ rõ những thành tựu nổi bật về nâng cao thu nhập và hợp tác quốc tế, đồng thời làm sáng tỏ các điểm nghẽn pháp lý căn bản như rào cản thế chấp tài sản công, quy mô dự án PPP và nguy cơ gia tăng gánh nặng học phí. Hệ thống giải pháp lập pháp và biện pháp bảo đảm được đề xuất mang tính đồng bộ, có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế tài chính giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay.