Tổng quan nghiên cứu

Chính sách tiền lương tối thiểu vùng tại Việt Nam là công cụ điều tiết thị trường lao động quan trọng, tác động trực tiếp đến đời sống của ít nhất 18,7 triệu lao động, chiếm khoảng 36% tổng lực lượng lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp theo thống kê của Ngân hàng Thế giới. Trải qua tiến trình cải cách kinh tế, mức lương tối thiểu chung đã liên tục được điều chỉnh từ 120.000 đồng/tháng vào năm 1996 lên trên 2.000.000 đồng/tháng vào năm 2015. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 91, Bộ luật Lao động năm 2012 (Luật số 10/2012/QH13), tiền lương tối thiểu phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán thường niên tại Hội đồng Tiền lương Quốc gia luôn diễn ra gay gắt giữa Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Trong khi tổ chức công đoàn đề xuất mức tăng từ 11,11% đến 23% nhằm bù đắp mức sống tối thiểu (vốn chỉ đạt 71,2% nhu cầu thực tế năm 2015), đại diện doanh nghiệp lại kiến nghị mức tăng thận trọng từ 4,5% đến 14% để bảo vệ năng lực cạnh tranh.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là các cuộc tranh luận chính sách phần lớn dựa trên kỳ vọng chủ quan mà thiếu vắng các bằng chứng thực nghiệm định lượng chặt chẽ. Luận văn tập trung giải quyết câu hỏi: Chính sách tăng tiền lương tối thiểu vùng thực sự tác động như thế nào lên thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp tại Việt Nam? Nghiên cứu giới hạn phạm vi không gian trên toàn bộ 4 vùng kinh tế và phạm vi thời gian giai đoạn 2010 - 2014. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp thước đo khoa học về hiệu quả can thiệp của Nhà nước, đối chiếu giữa mục tiêu an sinh xã hội và độ co giãn của cầu lao động doanh nghiệp (ước tính đạt -0,175 trong ngắn hạn và -0,519 trong dài hạn).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế học lao động vi mô và lý thuyết tiền lương hiệu quả (Efficiency Wage Theory). Theo mô hình thị trường lao động cạnh tranh hoàn hảo, tiền lương được xác định tại điểm cân bằng cung - cầu phản ánh năng suất biên của lao động. Khi Chính phủ thiết lập mức lương tối thiểu cao hơn mức cân bằng thị trường, chính sách đóng vai trò như một mức giá sàn, dẫn đến hiện tượng dư cung lao động và tạo ra nguy cơ thất nghiệp cơ học. Ngược lại, lý thuyết tiền lương hiệu quả chỉ ra rằng việc nâng mức lương có thể tạo động lực kích thích người lao động nâng cao năng suất, gắn bó với tổ chức và giảm chi phí tuyển dụng cho người sử dụng lao động.

Bên cạnh khung lý thuyết, luận văn làm rõ ba khái niệm đo lường thu nhập cốt lõi theo chuẩn mực quốc tế:

  1. Thu nhập từ tiền lương và tiền công bình quân tháng từ việc làm chính.
  2. Thu nhập từ việc làm chính bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp, hiện vật quy đổi.
  3. Tổng thu nhập bình quân tháng của cá nhân tích lũy từ tất cả các nguồn sinh kế.

Khung phân tích cũng tham chiếu mô hình xác định 4 tiêu chí ấn định lương tối thiểu gồm: nhu cầu sống tối thiểu, cung cầu lao động, tốc độ tăng GDP và mức độ trượt giá CPI, kết hợp kinh nghiệm quản trị từ hơn 40 quốc gia trên thế giới theo các báo cáo học thuật chuyên ngành.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ bộ Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam (VHLSS) do Tổng cục Thống kê thực hiện trong các năm 2010, 2012 và 2014. Cỡ mẫu phân tích bao gồm 37.325 quan sát thành viên năm 2010, 36.963 quan sát năm 2012 (với 16.776 quan sát lặp lại) và 36.081 quan sát năm 2014 (với 14.698 quan sát lặp lại). Quá trình chọn mẫu lọc ra các cá nhân trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên làm việc hưởng lương tại các loại hình doanh nghiệp.

Để khắc phục hiện tượng nội sinh và sai lệch chọn mẫu đặc trưng của dữ liệu phi thực nghiệm, tác giả lựa chọn mô hình kết hợp phương pháp Điểm xu hướng (Propensity Score Matching - PSM) và phương pháp Khác biệt trong khác biệt (Difference-in-Differences - DiD). PSM đóng vai trò tìm kiếm vùng hỗ trợ chung để ghép cặp nhóm đối chứng có đặc tính tương đồng nhất với nhóm can thiệp (những người có thu nhập ban đầu dưới mức lương tối thiểu mới). Mô hình DiD sau đó được ước lượng nhằm triệt tiêu các đặc trưng không quan sát được bất biến theo thời gian:

Phương trình ước lượng: Thu nhập = a0 + a1(Năm x Can thiệp) + a2(Năm) + a3(Can thiệp) + a4(Biến kiểm soát) + e

Hệ thống biến kiểm soát bao gồm: độ tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, kỹ năng lao động, khu vực địa lý 6 vùng sinh thái và diện tích đất mặt nước sở hữu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng giai đoạn 2010 - 2014 mang lại bốn phát hiện thực nghiệm mang tính bước ngoặt:

Thứ nhất, cơ cấu thu nhập của nhóm lao động thu nhập thấp cho thấy sự phụ thuộc lớn vào nguồn thu ngoài việc làm chính. Năm 2010, tỷ trọng tiền lương việc làm chính chỉ chiếm từ 48% (Vùng I), 61% (Vùng II), 54% (Vùng III) đến 55% (Vùng IV) trong tổng thu nhập bình quân của người lao động. Thu nhập từ công việc chính chỉ đóng góp 57% đến 70%, đồng nghĩa với việc người lao động phải dựa vào 30% đến 40% thu nhập phụ bên ngoài để duy trì sinh hoạt.

Thứ hai, tác động thực tế của việc tăng lương tối thiểu lên thu nhập danh nghĩa có sự phân hóa mạnh nhưng không đạt kỳ vọng dự báo. Tại Vùng I, tiền lương bình quân của nhóm can thiệp tăng từ 1.340.857 đồng (năm 2010) lên 2.942.770 đồng (năm 2012); Vùng II tăng từ 1.266.240 đồng lên 2.244.077 đồng; Vùng III tăng từ 1.013.515 đồng lên 1.533.966 đồng; và Vùng IV tăng từ 810.673 đồng lên 1.122.741 đồng. Mặc dù các chỉ tiêu thu nhập đều có xu hướng tăng theo giá trị danh nghĩa, kết quả hồi quy DiD kiểm soát đa biến chỉ ra rằng tác động thuần túy của chính sách lên tốc độ tăng thu nhập đa số không có ý nghĩa thống kê ở mức tiêu chuẩn 5%.

Thứ ba, sự bất bình đẳng thể hiện rõ nét qua các biến số nhân khẩu học. Lao động nữ, người dân tộc thiểu số (chiếm khoảng 24% tại Vùng IV), lao động nông thôn (chiếm trên 70% tại Vùng III và IV) và lao động có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông (chiếm tới 70% tại Vùng IV) luôn là nhóm có mức lương thấp nhất và chịu tác động bất lợi khi thị trường biến động.

Thứ tư, tình trạng tuân thủ pháp luật lao động còn lỏng lẻo ở vùng sâu vùng xa. Tỷ lệ người lao động có ký kết hợp đồng lao động ở nhóm can thiệp tại Vùng IV chỉ đạt 32%, Vùng III đạt 35%, Vùng II đạt 43% và Vùng I đạt 49%. Các dữ liệu này được trực quan hóa qua biểu đồ cột so sánh cơ cấu ba nguồn thu nhập và bảng ma trận thống kê mô tả 8 nhóm thuộc tính giữa các vùng kinh tế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến chính sách tăng lương tối thiểu vùng chưa tạo ra cú hích thu nhập tương xứng nằm ở sự mất cân đối giữa tăng tiền lương và tăng năng suất lao động. Trong giai đoạn khảo sát, tốc độ tăng lương tối thiểu bình quân hàng năm dao động từ 12,4% đến 15,25%, trong khi tốc độ tăng năng suất lao động xã hội chỉ đạt xấp xỉ 3% đến 4%/năm. Đối với khối doanh nghiệp, chi phí lao động bình quân ở mức 2.905 triệu đồng/năm tạo áp lực tài chính rất lớn. Để đối phó với việc tăng lương danh nghĩa bắt buộc, các doanh nghiệp có xu hướng cắt giảm các khoản phụ cấp ngoài lương, thắt chặt thưởng hiệu quả, giãn giờ làm hoặc chuyển hướng sang sử dụng lao động thời vụ không ký hợp đồng nhằm tối thiểu hóa chi phí bảo hiểm xã hội.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế tại Nam Phi và Vương quốc Anh, khi sự gia tăng lương sàn thường bị triệt tiêu bởi sự cắt giảm các phúc lợi phi tiền lương. Nghiên cứu khẳng định rằng nếu chính sách tiền lương tiếp tục tách rời năng suất thực tế, nó sẽ tạo ra ngoại ứng tiêu cực lên khu vực kinh tế chính thức, làm suy giảm năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện cơ chế điều hành tiền lương tối thiểu tại Việt Nam:

Thứ nhất, điều chỉnh tốc độ tăng lương tối thiểu thận trọng, bám sát mức tăng năng suất lao động và chỉ số giá tiêu dùng CPI thực tế. Hội đồng Tiền lương Quốc gia cần khống chế biên độ tăng lương tối thiểu bình quân hàng năm ở mức từ 5% đến 7% trong giai đoạn 2018 - 2025, tránh các cú sốc chi phí đột ngột gây tổn hại đến sức chịu đựng của doanh nghiệp.

Thứ hai, thiết lập cơ chế xác định tiền lương tối thiểu đa mục tiêu. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng cục Thống kê trong giai đoạn 2020 - 2024 xây dựng giỏ hàng hóa chuẩn hóa gồm 50 đến 60 mặt hàng thiết yếu theo từng vùng kinh tế, đồng thời tích hợp chỉ số chi phí sinh hoạt địa phương để thay thế phương pháp ước lượng định tính cảm tính.

Thứ ba, tăng cường hệ thống thanh tra, giám sát thực thi pháp luật lao động tại các địa bàn khó khăn. Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cần triển khai chương trình hành động giai đoạn 2021 - 2025, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ ký kết hợp đồng lao động tại Vùng III và Vùng IV từ mức 32% hiện tại lên tối thiểu 75%, bảo đảm lưới an sinh bao phủ đúng đối tượng yếu thế.

Thứ tư, đẩy mạnh các chương trình đào tạo kỹ năng nghề cho lao động nông thôn và lao động nữ. Khuyến khích doanh nghiệp liên kết với các cơ sở dạy nghề thông qua chính sách ưu đãi thuế giai đoạn 2021 - 2026, nhằm nâng tốc độ tăng năng suất biên của lao động lên 6% - 8%/năm, tạo nền tảng vững chắc cho việc tăng lương thực chất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội đồng Tiền lương Quốc gia có thể khai thác bộ chỉ số định lượng và mô hình DiD trong luận văn làm cơ sở khoa học để xây dựng kịch bản điều chỉnh lương tối thiểu và đánh giá tác động chính sách công đa chiều.

  2. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng các hiệp hội doanh nghiệp thâm dụng lao động (dệt may, da giày, chế biến thủy hải sản) sử dụng các ước lượng về độ co giãn cầu lao động (-0,175 và -0,519) để lập kế hoạch quản trị chi phí và đàm phán thỏa ước lao động tập thể.

  3. Tổ chức đại diện người lao động: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các cấp công đoàn cơ sở có thể tham khảo bằng chứng về cơ cấu thu nhập và mức độ đáp ứng 71,2% mức sống tối thiểu để xây dựng chiến lược bảo vệ quyền lợi hợp pháp, nâng cao tỷ lệ ký hợp đồng lao động tại cơ sở.

  4. Giới học thuật, giảng viên và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế học lao động và Chính sách công có thể ứng dụng khung phương pháp kết hợp PSM - DiD trên dữ liệu vi mô VHLSS phục vụ công tác giảng dạy và thực hiện các công trình nghiên cứu mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách tăng tiền lương tối thiểu vùng có thực sự làm tăng tổng thu nhập của người lao động nghèo không? Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy chính sách làm tăng mức lương danh nghĩa của công việc chính, nhưng tác động lên tổng thu nhập thực tế là không đáng kể và thiếu ý nghĩa thống kê. Nguyên nhân do tiền lương việc làm chính chỉ chiếm 48% đến 61% tổng thu nhập, trong khi doanh nghiệp thường cắt giảm phụ cấp bổ sung để bù đắp chi phí.

Tại sao nghiên cứu lại kết hợp phương pháp PSM và DiD thay vì dùng hồi quy OLS thông thường? Hồi quy OLS đơn giản dễ dẫn đến sai lệch chọn mẫu do không kiểm soát được các yếu tố nội sinh. Sự kết hợp giữa phương pháp điểm xu hướng (PSM) để tạo nhóm đối chứng tương đồng và phương pháp khác biệt trong khác biệt (DiD) giúp loại bỏ triệt để các đặc tính không quan sát được bất biến theo thời gian của 37.325 mẫu khảo sát.

Doanh nghiệp chịu tác động như thế nào khi tiền lương tối thiểu liên tục tăng nhanh? Doanh nghiệp gánh chịu mức chi phí lao động bình quân khoảng 2.905 triệu đồng/năm. Với độ co giãn của cầu lao động trong dài hạn là -0,519, việc tăng lương tối thiểu vượt quá tốc độ tăng năng suất buộc doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô tuyển dụng chính thức, tăng giá bán hoặc giảm phúc lợi ngoài lương của người lao động.

Nhóm đối tượng lao động nào chịu nhiều thiệt thòi nhất trên thị trường hiện nay? Dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng lao động nữ, người dân tộc thiểu số và lao động tại Vùng IV chịu thiệt thòi lớn nhất. Tỷ lệ ký kết hợp đồng lao động tại Vùng IV chỉ đạt 32%, phần lớn lao động có học vấn dưới trung học phổ thông (chiếm 70%) nên khả năng tiếp cận và thụ hưởng chính sách rất hạn chế.

Căn cứ khoa học nào cần được bổ sung trong các cuộc thương lượng tiền lương tương lai? Thay vì đàm phán thuần túy dựa trên cảm tính, Hội đồng Tiền lương Quốc gia cần xây dựng cơ chế đa mục tiêu gắn chặt tốc độ tăng lương với chỉ số năng suất lao động (hiện chỉ tăng 3% - 4%/năm), giỏ hàng hóa sinh hoạt thực tế và biên độ lạm phát theo từng vùng địa lý.

Kết luận

  • Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm hệ thống đầu tiên về tác động của chính sách tiền lương tối thiểu vùng lên thu nhập của lao động doanh nghiệp giai đoạn 2010 - 2014.
  • Ứng dụng thành công phương pháp kinh tế lượng hiện đại kết hợp DiD và PSM trên bộ dữ liệu lớn VHLSS gồm hàng chục nghìn quan sát.
  • Phát hiện nghịch lý chính sách: tiền lương tối thiểu tăng danh nghĩa nhưng tác động thực tế lên tổng thu nhập không có ý nghĩa thống kê do lương chính chỉ chiếm khoảng 48% - 61% tổng thu nhập.
  • Làm rõ rủi ro kinh tế vĩ mô khi tốc độ tăng lương tối thiểu (12,4% - 15,25%) vượt xa tốc độ tăng năng suất lao động xã hội (3% - 4%/năm).
  • Đóng góp hệ thống 4 khuyến nghị chính sách đồng bộ từ xác định lương đa mục tiêu đến tăng cường giám sát hợp đồng lao động tại cơ sở.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan quản lý triển khai đồng bộ khung tiêu chí tiền lương mới gắn với năng suất lao động trong giai đoạn 2021 - 2025. Các nhà hoạch định chính sách và giới nghiên cứu cần tiếp tục mở rộng mô hình phân tích sang khu vực kinh tế phi chính thức nhằm hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội toàn diện và bền vững cho người lao động Việt Nam.