Luận án tiến sĩ nghiên cứu về tác động của chi phí đại diện đến hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Luận án tiến sĩ phân tích tác động của chi phí đại diện đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

139
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới

1.2. Tổng quan các nghiên cứu trong nước

1.3. Câu hỏi nghiên cứu và mô hình, phương pháp nghiên cứu

1.4. Khoảng trống nghiên cứu

1.5. Câu hỏi nghiên cứu

1.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI PHÍ ĐẠI DIỆN TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

2.1. Các vấn đề cơ bản về chi phí đại diện. Khái niệm và phân loại về chi phí đại diện

2.2. Mối quan hệ giữa quản trị công ty và chi phí đại diện

2.3. Quản lý chi phí đại diện trong doanh nghiệp

2.4. Các tiêu chí phản ánh chi phí đại diện trong doanh nghiệp

2.5. Hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp

2.6. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

2.7. Mối quan hệ giữa chi phí đại diện, cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

2.8. Tác động của chi phí đại diện

2.8.1. Tác động tích cực của chi phí đại diện

2.8.2. Tác động tiêu cực của chi phí đại diện

2.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH KIỂM ĐỊNH TÁC ĐỘNG CỦA CHI PHÍ ĐẠI DIỆN TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT

3.1. Thực trạng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trong thời gian từ 2010 đến 2016

3.2. Thực trạng hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp niêm yết

3.3. Thực trạng các doanh nghiệp xây dựng niêm yết

3.4. Thực trạng chi phí đại diện của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trong thời gian từ 2010 đến 2016

3.5. Doanh thu trên tổng tài sản. Chi phí quản lý doanh nghiệp.

3.6. Kiểm định thực chứng về tác động của chi phí đại diện tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết

3.6.1. Kiểm định thực chứng tác động của chi phí đại diện tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết

3.6.2. Kiểm định thực chứng tác động của chi phí đại diện tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết

3.7. Tác động của chi phí đại diện tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

3.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ

4.1. Thảo luận các kết quả nghiên cứu

4.2. Xây dựng hệ thống lương, thưởng hợp lý

4.3. Nâng cao vai trò của thành viên HĐQT độc lập

4.4. Tái cấu trúc sở hữu các doanh nghiệp có vốn Nhà nước, tăng cường sở hữu khác trong thành phần kinh tế

4.5. Quản lý nợ vay

4.6. Đưa công nghệ vào quản lý

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BẢNG HÌNH

Tóm tắt

I. Tác động của chi phí đại diện đến hiệu quả hoạt động

Nghiên cứu về chi phí đại diện cho thấy rằng nó có ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Chi phí đại diện phát sinh từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, dẫn đến xung đột lợi ích giữa các cổ đông và nhà quản lý. Theo lý thuyết, khi chi phí đại diện tăng lên, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có thể bị suy giảm do nhà quản lý không còn tập trung vào việc tối đa hóa giá trị cho cổ đông. Một nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp có chi phí đại diện cao thường gặp khó khăn trong việc duy trì lợi nhuận và tăng trưởng bền vững. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý chi phí đại diện để đảm bảo rằng các nhà quản lý hành động vì lợi ích của cổ đông.

1.1. Mối quan hệ giữa chi phí đại diện và hiệu quả hoạt động

Mối quan hệ giữa chi phí đại diệnhiệu quả hoạt động được thể hiện qua các chỉ số tài chính như ROA và ROE. Nghiên cứu cho thấy rằng khi chi phí đại diện gia tăng, ROA và ROE có xu hướng giảm. Điều này cho thấy rằng các nhà quản lý có thể không sử dụng tài sản một cách hiệu quả, dẫn đến giảm lợi nhuận. Hơn nữa, các doanh nghiệp có chi phí đại diện thấp thường có khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường. Việc giảm thiểu chi phí đại diện không chỉ giúp cải thiện hiệu quả hoạt động mà còn tạo ra giá trị bền vững cho cổ đông.

II. Quản lý chi phí đại diện trong các doanh nghiệp niêm yết

Quản lý chi phí đại diện là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết. Các biện pháp quản lý như xây dựng hệ thống lương thưởng hợp lý, tăng cường vai trò của các thành viên HĐQT độc lập, và minh bạch hóa thông tin có thể giúp giảm thiểu chi phí đại diện. Một nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp áp dụng các biện pháp này có xu hướng đạt được hiệu quả hoạt động cao hơn. Việc tạo ra một môi trường làm việc khuyến khích sự hợp tác giữa các nhà quản lý và cổ đông cũng là một yếu tố quan trọng trong việc giảm thiểu chi phí đại diện.

2.1. Các biện pháp giảm thiểu chi phí đại diện

Để giảm thiểu chi phí đại diện, các doanh nghiệp niêm yết cần thực hiện một số biện pháp như cải thiện hệ thống quản trị công ty, tăng cường sự tham gia của cổ đông trong các quyết định quan trọng, và áp dụng các công nghệ mới trong quản lý. Việc này không chỉ giúp giảm thiểu chi phí đại diện mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Một nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp có sự tham gia cao của cổ đông thường có hiệu quả hoạt động tốt hơn, nhờ vào việc giảm thiểu xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý.

III. Tác động của chi phí đại diện đến hiệu suất doanh nghiệp

Tác động của chi phí đại diện đến hiệu suất doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu tài chính. Các doanh nghiệp có chi phí đại diện cao thường gặp khó khăn trong việc duy trì hiệu suất doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng chi phí đại diện có thể dẫn đến việc sử dụng tài sản không hiệu quả, làm giảm khả năng sinh lời. Hơn nữa, các doanh nghiệp cần phải chú trọng đến việc quản lý chi phí đại diện để đảm bảo rằng họ có thể duy trì hiệu suất doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng.

3.1. Đánh giá hiệu suất doanh nghiệp

Đánh giá hiệu suất doanh nghiệp cần dựa trên các chỉ số tài chính như ROA, ROE và tỷ lệ chi phí quản lý. Các chỉ số này phản ánh khả năng sử dụng tài sản và hiệu quả quản lý của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp có hiệu suất doanh nghiệp cao thường có chi phí đại diện thấp, cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa hai yếu tố này. Việc cải thiện hiệu suất doanh nghiệp không chỉ giúp tăng trưởng lợi nhuận mà còn tạo ra giá trị bền vững cho cổ đông.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu về tác động của chi phí đại diện đến hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu ở ngoài nước từ trước tới nay về Chi phí đại diện cũng như những ứng dụng lý thuyết chi phí đại diện trong quản lý doanh nghiệp tương đối đa dạng, cho thấy đây là một đề tài thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Hầu hết các nghiên cứu đã chỉ ra vấn đề đại diện là một phần không thể thiếu trong những nghiên cứu về lý thuyết quản trị công ty hiện đại trên thế giới. Nhà kinh tế nổi tiếng, Adam Smith đã phê phán hình thức tổ chức doanh nghiệp dưới dạng cổ phần.

Ông cho rằng sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý của những công ty cổ phần có thể dẫn tới khả năng quản trị của bộ máy quản lý thiếu hiệu quả.2 “Giám đốc của những công ty (công ty cổ phần) là những nhà quản lý tiền của người khác thay vì tiền của chính họ. Vì vậy, không thể hoàn toàn kỳ vọng rằng họ sẽ điều hành công ty với cùng một sự chú ý giống như họ điều hành công ty tư nhân của chính họ. Giống như những quản gia của một người giàu có, họ có khuynh hướng không để tâm tới những vẫn đề nhỏ và thường bỏ qua những vấn đề này vì cho rằng đó không phải việc của mình. Vì vậy, sự cẩu thả, lơ đễnh và hoang phí có thể chiếm ưu thế không ít thì nhiều trong việc quản lý những công ty theo dạng cổ phần”.

Như vậy, có thể nói rằng vấn đề đại diện đã được Adam Smith sớm chỉ ra khi đề cập đến hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần. Ông cũng nhận diện đây là nguyên nhân của không hiệu quả trong quản lý công ty cổ phần. Vấn đề người đại diện được đề cập tới lần đầu tiên trong nghiên cứu của Berle và Means (1932) về sở hữu trong doanh nghiệp. Hai tác giả đã chỉ ra rằng, khi có sự tách biệt giữa chức năng quản lý và quyền sở hữu, người quản lý (đại diện của doanh nghiệp) sẽ có động cơ và cơ hội để thực hiện các hành vi trục lợi cho bản thân, thay vì tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu, do đó sẽ gây thiệt hại cho các cổ đông.

Tiếp theo đó, nhiều nghiên cứu đã bắt đầu xem vấn đề đai diện là một trong những vấn đề nổi cộm trong quản trị công ty, cụ thể như các nghiên cứu của Spence và Zeckhauser (1971), Ross (1973), Mitnick (1973), Mitnick (1975), Alchian và Woodward (1987), Demsetz (1988), Jensen và Meckling (1976). Các nghiên cứu này đã khai thác nhiều vấn đề liên quan đến hợp đồng đại diện trong công việc giữa người sở 2 Smith, A. (1976), The Wealth of Nations. luan an 8 hữu và người đại diện quản lý trên các phương thức khác nhau.

Ví dụ, Ross (1973), trong bài báo “The Economic Theory of Agency: The Principal’s Problem”, đã chỉ ra lý thuyết kinh tế về vấn đề đại diện. Ông giới thiệu những nghiên cứu về vấn đề đại diện dưới dạng hợp đồng lao động (hay là hợp đồng đền bù công sức người đại diện bỏ ra bằng một mức thu nhập hay lợi ích nhất định) và thực chất vấn đề đại diện được nhìn nhận như một vấn đề mang tính khuyến khích. “Bản chất vấn đề đại diện là tìm ra biện pháp để lựa chọn một hệ thống bù đắp phù hợp để biến những hành vi của người đại diện phù hợp với yêu cầu của người chủ”. Ross (1973) đã tập trung vào bản chất của hệ thống khuyến khích và hệ thống hợp đồng để hướng dẫn sự phân bổ những khuyến khích và điều kiện về rủi ro, cũng như hướng dẫn sự phân bổ thông tin để từ đó quy định hành vi của người đại diện.

Ross (1973) cũng xem vấn đề đại diện là một vấn đề mang tính xã hội chứ không đơn thuần là một vấn đề về lý thuyết doanh nghiệp. Tuy nhiên, Ross (1973) chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu lĩnh vực ra quyết định và kết quả của những quyết định liên quan đến sự khuyến khích. Bối cảnh hình thành mối quan hệ đại diện đã không được phân tích và do đó đã làm giảm tính hiệu quả của sự khuyến khích và trách nhiệm thực hiện hợp đồng đối với những quyết định của người đại diện. Mitnick (1973), trong bài tham luận được trình bày tại kỳ họp hàng năm tại Hiệp hội khoa học chính trị Mỹ đã giới thiệu lý thuyết căn bản về vấn đề đại diện của tổ chức.

Đồng thời, trong các bài viết sau đó về lý thuyết đại diện (ví dụ, Mitnick, 1975), Mitnick (1973) đã đưa ra những nghiên cứu sâu về những khía cạnh khác nhau của lý thuyết đại diện. Điều này đã tạo tiền đề cho sự phát triển lý thuyết nói chung. Cụ thể, Mitnick (1973) đã trình bầy một nhóm những khái niệm chi tiết về vấn đề đại diện, đồng thời phân loại những khái niệm thành những hệ thống, xác định những mối quan hệ đại diện và ngôn ngữ để miêu tả và giải thích vấn đề đại diện và những hành vi trong vấn đề đại diện. Bên cạnh việc xác định quan hệ đại diện, các nhà quản lý cần chú ý tập trung tới tính chất sở hữu trong doanh nghiệp.

Giả thiết chính của vấn đề đại diện là sự hiện diện của sự bất đối xứng thông tin giữa chủ sở hữu và người quản lý của công ty (Myers và Majluf, 1984). Đóng vai trò là người ra quyết định trong các hoạt động hàng ngày của công ty, các nhà quản lý nên biết nhiều hơn về mối quan hệ của công ty và chủ sở hữu bên ngoài. Các chủ sở hữu bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong sự ổn định của công ty trên thị trường, các ảnh hưởng như tâm lý đám đông, sự mất lòng tin của chủ sở hữu bên ngoài ảnh hưởng không nhỏ tới giá trị cổ phiếu của công ty trên thị trường. Các nhà quản lý cần sử dụng thông tin bên trong để cân bằng lợi ích của chính họ với chi phí của chủ sở hữu khác, dưới các hình thức cả về vật chất luan an 9 và tinh thần.

Mặt khác, mức độ nghiêm trọng của thông tin bất đối xứng tăng với mức độ phân tán của cơ cấu sở hữu. Lý do chính của hiện tượng này là vấn đề “kẻ ăn theo” (free rider): chủ sở hữu không thu thập thông tin và chỉ quan tâm tới những lợi ích mà công ty có thể mang lại cho họ. Cổ đông nhỏ thường thiếu kinh nghiệm và khó có thể lấp được khoảng cách thông tin vì lợi ích tiềm năng không thể bù đắp chi phí tương ứng mà họ phải gánh chịu (Yammeesri, 2003). Do đó, các cổ đông nhỏ có động cơ mạnh hơn các cổ đông lớn để trở thành “free rider: thay vì chủ động thu thập thông tin và giám sát các hoạt động của công ty, các cổ đông nhỏ sẽ không làm gì vì họ biết rằng những cổ đông lớn sẽ thực hiện việc thu thập thông tin và giám sát các hoạt động của công ty giúp họ.

Do đó trong một cơ cấu sở hữu phân tán nơi thiếu cổ đông lớn, vấn đề free rider có thể trở nên nghiêm trọng hơn, chi phí đại diện cao hơn và ảnh hưởng không tốt uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Jensen và Meckling (1976) đã cụ thể hóa những vấn đề đại diện trong công ty thành chi phí đại diện trong bài viết “Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure”. Hai ông cho rằng: “mỗi quan hệ đại diện trong công ty cổ phần như là một hợp đồng mà theo đó một hoặc nhiều người (Người chủ) ràng buộc người khác (Người đại diện) trong việc thực hiện một số công việc đại diện cho người chủ. Hai ông cho rằng trong công ty cổ phần chủ yếu tồn tại các mối quan hệ hợp đồng đại diện giữa (1) các cổ đông và các nhà điều hành; (2) giữa chủ nợ và cổ đông.

Chủ thể của những mối quan hệ này không phải luôn luôn hoà hợp về mục tiêu lợi nhuận. Lý thuyết đại diện đề cập đến cái gọi là mâu thuẫn đại diện, hay mâu thuẫn lợi ích giữa người đại diện và người chủ. Và khi vấn đề đại diện phát sinh sẽ làm phát sinh chi phí đại diện”. Từ việc tìm hiểu mối quan hệ về đại diện, Jensen và Meckling (1976) đã định nghĩa chi phí đại diện là tổng thể của ba loại chi phí: Thứ nhất: Chi phí giám sát người đại diện của người chủ sở hữu hay được gọi tắt là “Chi phí giám sát”.

Chi phí giám sát là những chi phí do chủ sở hữu bỏ ra để giám sát hoạt động của người đại diện, có thể bao gồm các chi phí cho hoạt động kiểm tra, chi phí sa thải hoặc chi phí ký kết hợp đồng bồi hoàn đối với người đại diện. Thứ hai: Chi phí ràng buộc là chi phí để tạo ra một cơ chế để đảm bảo những người chủ sẽ được bổi thường thỏa đáng khi những hành vi làm tổn hại đến lợi ích của họ do người làm thuê thực hiện. Thứ ba: Chi phí mất mát tăng thêm là chi phí tương đương bị mất đi do sự bất đồng về lợi ích giữa người chủ và người làm thuê hay nói cách khác nếu không có luan an 10 những chi phí mất đi do sự bất đồng giữa người chủ và người làm thuê thì những chi phí mất đi này sẽ bổ sung thêm vào lợi ích của chủ sở hữu. Bên cạnh việc phát triển những vấn đề lý thuyết về chi phí đại diện, các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đã đề xuất rất nhiều biện pháp để quản lý hiệu quả chi phí đại diện.

Jensen và Meckling (1976), đã đề xuất tăng tỷ lệ nợ trong cơ cấu vốn của công ty. Nợ tăng lên sẽ dẫn đến giảm chi phí đại diện hay giảm mâu thuẫn giữa người quản lý và chủ sở hữu do việc vay nợ sẽ thúc ép công ty cũng như nhà quản lý của công ty chịu áp lực phải chi trả lãi và nợ gốc trong tương lai, điều này sẽ khiến việc sử dụng vốn đầu tư vào những dự án thiếu hiệu quả hoặc tham nhũng từ dự án sẽ giảm bớt do sự kiểm soát và sức ép từ phía chủ nợ là rất lớn. Tuy nhiên, việc dùng nợ tăng thêm để làm giảm vấn đề đại diện sẽ làm gia tăng trách nhiệm của cổ đông với chủ nợ làm rủi ro của công ty có thể bị thay đổi đáng kể. Vì vậy, việc gia tăng nợ như là một biện pháp để giảm thiểu chi phí đại diện cần phải cân nhắc kỹ lưỡng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu tác động của chi phí đại diện đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" của tác giả Trần Minh Tuấn, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Duy Hào, tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí đại diện và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức chi phí đại diện ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực cho các nhà quản lý doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa hoạt động và nâng cao giá trị doanh nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến tài chính và quản lý doanh nghiệp, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu về ảnh hưởng của kế hoạch thuế đến giá trị doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam, nơi phân tích tác động của chính sách thuế đến giá trị doanh nghiệp, hay Nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của cơ cấu vốn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Cuối cùng, bài viết Đặc điểm sự tự tin của giám đốc điều hành và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về ảnh hưởng của tâm lý lãnh đạo đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.