CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu ở ngoài nước từ trước tới nay về Chi phí đại diện cũng như những ứng dụng lý thuyết chi phí đại diện trong quản lý doanh nghiệp tương đối đa dạng, cho thấy đây là một đề tài thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Hầu hết các nghiên cứu đã chỉ ra vấn đề đại diện là một phần không thể thiếu trong những nghiên cứu về lý thuyết quản trị công ty hiện đại trên thế giới. Nhà kinh tế nổi tiếng, Adam Smith đã phê phán hình thức tổ chức doanh nghiệp dưới dạng cổ phần.
Ông cho rằng sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý của những công ty cổ phần có thể dẫn tới khả năng quản trị của bộ máy quản lý thiếu hiệu quả.2 “Giám đốc của những công ty (công ty cổ phần) là những nhà quản lý tiền của người khác thay vì tiền của chính họ. Vì vậy, không thể hoàn toàn kỳ vọng rằng họ sẽ điều hành công ty với cùng một sự chú ý giống như họ điều hành công ty tư nhân của chính họ. Giống như những quản gia của một người giàu có, họ có khuynh hướng không để tâm tới những vẫn đề nhỏ và thường bỏ qua những vấn đề này vì cho rằng đó không phải việc của mình. Vì vậy, sự cẩu thả, lơ đễnh và hoang phí có thể chiếm ưu thế không ít thì nhiều trong việc quản lý những công ty theo dạng cổ phần”.
Như vậy, có thể nói rằng vấn đề đại diện đã được Adam Smith sớm chỉ ra khi đề cập đến hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần. Ông cũng nhận diện đây là nguyên nhân của không hiệu quả trong quản lý công ty cổ phần. Vấn đề người đại diện được đề cập tới lần đầu tiên trong nghiên cứu của Berle và Means (1932) về sở hữu trong doanh nghiệp. Hai tác giả đã chỉ ra rằng, khi có sự tách biệt giữa chức năng quản lý và quyền sở hữu, người quản lý (đại diện của doanh nghiệp) sẽ có động cơ và cơ hội để thực hiện các hành vi trục lợi cho bản thân, thay vì tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu, do đó sẽ gây thiệt hại cho các cổ đông.
Tiếp theo đó, nhiều nghiên cứu đã bắt đầu xem vấn đề đai diện là một trong những vấn đề nổi cộm trong quản trị công ty, cụ thể như các nghiên cứu của Spence và Zeckhauser (1971), Ross (1973), Mitnick (1973), Mitnick (1975), Alchian và Woodward (1987), Demsetz (1988), Jensen và Meckling (1976). Các nghiên cứu này đã khai thác nhiều vấn đề liên quan đến hợp đồng đại diện trong công việc giữa người sở 2 Smith, A. (1976), The Wealth of Nations. luan an 8 hữu và người đại diện quản lý trên các phương thức khác nhau.
Ví dụ, Ross (1973), trong bài báo “The Economic Theory of Agency: The Principal’s Problem”, đã chỉ ra lý thuyết kinh tế về vấn đề đại diện. Ông giới thiệu những nghiên cứu về vấn đề đại diện dưới dạng hợp đồng lao động (hay là hợp đồng đền bù công sức người đại diện bỏ ra bằng một mức thu nhập hay lợi ích nhất định) và thực chất vấn đề đại diện được nhìn nhận như một vấn đề mang tính khuyến khích. “Bản chất vấn đề đại diện là tìm ra biện pháp để lựa chọn một hệ thống bù đắp phù hợp để biến những hành vi của người đại diện phù hợp với yêu cầu của người chủ”. Ross (1973) đã tập trung vào bản chất của hệ thống khuyến khích và hệ thống hợp đồng để hướng dẫn sự phân bổ những khuyến khích và điều kiện về rủi ro, cũng như hướng dẫn sự phân bổ thông tin để từ đó quy định hành vi của người đại diện.
Ross (1973) cũng xem vấn đề đại diện là một vấn đề mang tính xã hội chứ không đơn thuần là một vấn đề về lý thuyết doanh nghiệp. Tuy nhiên, Ross (1973) chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu lĩnh vực ra quyết định và kết quả của những quyết định liên quan đến sự khuyến khích. Bối cảnh hình thành mối quan hệ đại diện đã không được phân tích và do đó đã làm giảm tính hiệu quả của sự khuyến khích và trách nhiệm thực hiện hợp đồng đối với những quyết định của người đại diện. Mitnick (1973), trong bài tham luận được trình bày tại kỳ họp hàng năm tại Hiệp hội khoa học chính trị Mỹ đã giới thiệu lý thuyết căn bản về vấn đề đại diện của tổ chức.
Đồng thời, trong các bài viết sau đó về lý thuyết đại diện (ví dụ, Mitnick, 1975), Mitnick (1973) đã đưa ra những nghiên cứu sâu về những khía cạnh khác nhau của lý thuyết đại diện. Điều này đã tạo tiền đề cho sự phát triển lý thuyết nói chung. Cụ thể, Mitnick (1973) đã trình bầy một nhóm những khái niệm chi tiết về vấn đề đại diện, đồng thời phân loại những khái niệm thành những hệ thống, xác định những mối quan hệ đại diện và ngôn ngữ để miêu tả và giải thích vấn đề đại diện và những hành vi trong vấn đề đại diện. Bên cạnh việc xác định quan hệ đại diện, các nhà quản lý cần chú ý tập trung tới tính chất sở hữu trong doanh nghiệp.
Giả thiết chính của vấn đề đại diện là sự hiện diện của sự bất đối xứng thông tin giữa chủ sở hữu và người quản lý của công ty (Myers và Majluf, 1984). Đóng vai trò là người ra quyết định trong các hoạt động hàng ngày của công ty, các nhà quản lý nên biết nhiều hơn về mối quan hệ của công ty và chủ sở hữu bên ngoài. Các chủ sở hữu bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong sự ổn định của công ty trên thị trường, các ảnh hưởng như tâm lý đám đông, sự mất lòng tin của chủ sở hữu bên ngoài ảnh hưởng không nhỏ tới giá trị cổ phiếu của công ty trên thị trường. Các nhà quản lý cần sử dụng thông tin bên trong để cân bằng lợi ích của chính họ với chi phí của chủ sở hữu khác, dưới các hình thức cả về vật chất luan an 9 và tinh thần.
Mặt khác, mức độ nghiêm trọng của thông tin bất đối xứng tăng với mức độ phân tán của cơ cấu sở hữu. Lý do chính của hiện tượng này là vấn đề “kẻ ăn theo” (free rider): chủ sở hữu không thu thập thông tin và chỉ quan tâm tới những lợi ích mà công ty có thể mang lại cho họ. Cổ đông nhỏ thường thiếu kinh nghiệm và khó có thể lấp được khoảng cách thông tin vì lợi ích tiềm năng không thể bù đắp chi phí tương ứng mà họ phải gánh chịu (Yammeesri, 2003). Do đó, các cổ đông nhỏ có động cơ mạnh hơn các cổ đông lớn để trở thành “free rider: thay vì chủ động thu thập thông tin và giám sát các hoạt động của công ty, các cổ đông nhỏ sẽ không làm gì vì họ biết rằng những cổ đông lớn sẽ thực hiện việc thu thập thông tin và giám sát các hoạt động của công ty giúp họ.
Do đó trong một cơ cấu sở hữu phân tán nơi thiếu cổ đông lớn, vấn đề free rider có thể trở nên nghiêm trọng hơn, chi phí đại diện cao hơn và ảnh hưởng không tốt uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Jensen và Meckling (1976) đã cụ thể hóa những vấn đề đại diện trong công ty thành chi phí đại diện trong bài viết “Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure”. Hai ông cho rằng: “mỗi quan hệ đại diện trong công ty cổ phần như là một hợp đồng mà theo đó một hoặc nhiều người (Người chủ) ràng buộc người khác (Người đại diện) trong việc thực hiện một số công việc đại diện cho người chủ. Hai ông cho rằng trong công ty cổ phần chủ yếu tồn tại các mối quan hệ hợp đồng đại diện giữa (1) các cổ đông và các nhà điều hành; (2) giữa chủ nợ và cổ đông.
Chủ thể của những mối quan hệ này không phải luôn luôn hoà hợp về mục tiêu lợi nhuận. Lý thuyết đại diện đề cập đến cái gọi là mâu thuẫn đại diện, hay mâu thuẫn lợi ích giữa người đại diện và người chủ. Và khi vấn đề đại diện phát sinh sẽ làm phát sinh chi phí đại diện”. Từ việc tìm hiểu mối quan hệ về đại diện, Jensen và Meckling (1976) đã định nghĩa chi phí đại diện là tổng thể của ba loại chi phí: Thứ nhất: Chi phí giám sát người đại diện của người chủ sở hữu hay được gọi tắt là “Chi phí giám sát”.
Chi phí giám sát là những chi phí do chủ sở hữu bỏ ra để giám sát hoạt động của người đại diện, có thể bao gồm các chi phí cho hoạt động kiểm tra, chi phí sa thải hoặc chi phí ký kết hợp đồng bồi hoàn đối với người đại diện. Thứ hai: Chi phí ràng buộc là chi phí để tạo ra một cơ chế để đảm bảo những người chủ sẽ được bổi thường thỏa đáng khi những hành vi làm tổn hại đến lợi ích của họ do người làm thuê thực hiện. Thứ ba: Chi phí mất mát tăng thêm là chi phí tương đương bị mất đi do sự bất đồng về lợi ích giữa người chủ và người làm thuê hay nói cách khác nếu không có luan an 10 những chi phí mất đi do sự bất đồng giữa người chủ và người làm thuê thì những chi phí mất đi này sẽ bổ sung thêm vào lợi ích của chủ sở hữu. Bên cạnh việc phát triển những vấn đề lý thuyết về chi phí đại diện, các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đã đề xuất rất nhiều biện pháp để quản lý hiệu quả chi phí đại diện.
Jensen và Meckling (1976), đã đề xuất tăng tỷ lệ nợ trong cơ cấu vốn của công ty. Nợ tăng lên sẽ dẫn đến giảm chi phí đại diện hay giảm mâu thuẫn giữa người quản lý và chủ sở hữu do việc vay nợ sẽ thúc ép công ty cũng như nhà quản lý của công ty chịu áp lực phải chi trả lãi và nợ gốc trong tương lai, điều này sẽ khiến việc sử dụng vốn đầu tư vào những dự án thiếu hiệu quả hoặc tham nhũng từ dự án sẽ giảm bớt do sự kiểm soát và sức ép từ phía chủ nợ là rất lớn. Tuy nhiên, việc dùng nợ tăng thêm để làm giảm vấn đề đại diện sẽ làm gia tăng trách nhiệm của cổ đông với chủ nợ làm rủi ro của công ty có thể bị thay đổi đáng kể. Vì vậy, việc gia tăng nợ như là một biện pháp để giảm thiểu chi phí đại diện cần phải cân nhắc kỹ lưỡng.