Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế người dân tỉnh Bến Tre

Chuyên khảo phân tích Đánh giá tổn thương do biến đổi khí hậu đến sinh kế người dân tỉnh bến tre, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Trường Đại Học Cần Thơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2015

91
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.2.3. Nội dung nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1. Tổng quan về tình hình BĐKH

2.1.1. Kịch bản dự đoán xu hướng BĐKH và nước biển dâng

2.2. Nhiệt độ

2.3. Mực nước biển dâng

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp thu thập số liệu

3.2. Phương pháp khảo thực địa

3.2.1. Phỏng vấn cán bộ địa phương

3.2.2. Phỏng vấn sâu cá nhân và hộ gia đình

3.3. Tính toán chỉ số tổn thương do biến đổi khí hậu

3.3.1. Xác định tham số

3.3.2. Chuẩn hoá, số hoá dữ liệu

3.4. Tính toán chỉ số tổn thương

3.5. Phân tích độ nhạy

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả điều tra nông hộ

4.2. Chỉ số dễ bị tổn thương do BĐKH

4.2.1. Xây dựng trọng số không bằng nhau

4.2.2. Chỉ số tổn thương ở hiện tại

4.2.3. Chỉ số tổn thương dự đoán trong 3 thập kỷ tới

4.2.4. Phân tích độ nhạy

4.3. Khả năng và giải pháp thích nghi

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế người dân Bến Tre

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với sinh kế của người dân tại tỉnh Bến Tre. Với đặc điểm địa lý là vùng đất thấp, Bến Tre đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng như xâm nhập mặn, ngập lụt và thay đổi thời tiết. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp mà còn đe dọa đến an ninh lương thực và đời sống của người dân. Theo nghiên cứu của Trương Thanh Tân (2015), BĐKH đã làm gia tăng tình trạng thiếu nước ngọt và ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt.

1.1. Tình hình biến đổi khí hậu tại Bến Tre

Bến Tre là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ BĐKH. Mực nước biển dâng cao và xâm nhập mặn đã làm giảm diện tích đất canh tác, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Theo số liệu từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, mực nước biển có thể dâng lên tới 1 mét vào năm 2100, gây ra nhiều thiệt hại cho người dân.

1.2. Tác động đến sinh kế và nông nghiệp

Ngành nông nghiệp tại Bến Tre, đặc biệt là trồng lúa và cây ăn trái, đang phải đối mặt với nhiều thách thức do BĐKH. Sự thay đổi về lượng mưa và nhiệt độ đã làm giảm năng suất cây trồng. Nhiều hộ gia đình đã phải chuyển đổi sang các mô hình sản xuất khác để thích ứng với tình hình mới.

II. Những thách thức lớn từ biến đổi khí hậu đối với người dân Bến Tre

Người dân Bến Tre đang phải đối mặt với nhiều thách thức do BĐKH gây ra. Tình trạng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt và sản xuất nông nghiệp. Theo nghiên cứu, khoảng 45% diện tích đất nông nghiệp có nguy cơ bị nhiễm mặn cao, dẫn đến giảm năng suất và thu nhập của người dân.

2.1. Xâm nhập mặn và ảnh hưởng đến nguồn nước

Xâm nhập mặn đã làm giảm chất lượng nước ngầm và nước mặt, gây khó khăn cho việc tưới tiêu và sinh hoạt. Nhiều vùng nông thôn không còn đủ nước ngọt để phục vụ sản xuất, dẫn đến tình trạng thiếu nước nghiêm trọng.

2.2. Ngập lụt và thiệt hại mùa màng

Ngập lụt do mưa lớn và nước biển dâng đã gây thiệt hại lớn cho mùa màng. Nhiều hộ gia đình đã mất trắng vụ mùa, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống. Theo số liệu từ các cuộc khảo sát, thiệt hại do ngập lụt có thể lên tới hàng tỷ đồng mỗi năm.

III. Phương pháp ứng phó với biến đổi khí hậu tại Bến Tre

Để giảm thiểu tác động của BĐKH, tỉnh Bến Tre đã triển khai nhiều giải pháp ứng phó. Các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng và phát triển nông nghiệp bền vững đã được thực hiện nhằm giúp người dân thích ứng với tình hình mới.

3.1. Giải pháp quản lý nước và thủy lợi

Các công trình thủy lợi đã được xây dựng để kiểm soát xâm nhập mặn và ngập lụt. Tuy nhiên, cần có sự cải tiến trong quản lý và vận hành để đảm bảo hiệu quả sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp.

3.2. Đổi mới mô hình sản xuất nông nghiệp

Người dân đã bắt đầu chuyển đổi từ trồng lúa sang các loại cây trồng khác như cây ăn trái và nuôi thủy sản. Những mô hình này không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn giảm thiểu rủi ro do BĐKH.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn tại Bến Tre

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các chỉ số dễ bị tổn thương do BĐKH là cần thiết để đánh giá tình hình thực tế tại Bến Tre. Kết quả cho thấy nhiều hộ gia đình đang ở trong tình trạng dễ bị tổn thương cao, cần có sự hỗ trợ từ chính quyền và các tổ chức.

4.1. Đánh giá chỉ số dễ bị tổn thương

Chỉ số dễ bị tổn thương đã được áp dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của BĐKH đến sinh kế người dân. Kết quả cho thấy những vùng ven biển có chỉ số tổn thương cao hơn so với các vùng khác.

4.2. Ứng dụng các giải pháp thích ứng

Các giải pháp thích ứng đã được triển khai tại nhiều địa phương, giúp người dân cải thiện sinh kế và giảm thiểu rủi ro. Những mô hình này cần được nhân rộng để đạt hiệu quả cao hơn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho Bến Tre

Tương lai của Bến Tre dưới tác động của BĐKH vẫn còn nhiều thách thức. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của chính quyền và cộng đồng, có thể xây dựng một tương lai bền vững hơn cho người dân. Cần có các chính sách hỗ trợ và đầu tư vào nghiên cứu để phát triển các giải pháp ứng phó hiệu quả.

5.1. Tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ

Chính sách hỗ trợ từ chính quyền là rất cần thiết để giúp người dân thích ứng với BĐKH. Các chương trình đào tạo và hỗ trợ tài chính sẽ giúp nâng cao khả năng ứng phó của cộng đồng.

5.2. Hướng đi bền vững cho tương lai

Để đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân Bến Tre, cần có sự kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững sẽ là chìa khóa cho tương lai.

14/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ 3 Luận văn tốt nghiệp | Ngành QLTN&MT -------------------------------------------------------------------------------------------------------- CHƯƠNG 2 - LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về tình hình BĐKH Biến đổi khí hậu (BĐKH), trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, chủ yếu là do các hoạt động kinh tế - xã hội của con người phát thải quá mức vào khí quyển các khí gây hiệu ứng nhà kính. Theo Ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC, 2010), trong thời kỳ 1906 - 2005 nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,74 0C, băng hai cực trái đất tan ra, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm. Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ; BĐKH đã thực sự làm cho thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt trên phạm vi toàn cầu trong đó có Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh ven biển.1 Kịch bản dự đoán xu hướng BĐKH và nước biển dâng Biến đổi khí hậu trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào mức độ phát thải khí nhà kính. Mức độ phát thải khí nhà kính thể hiện qua sự phát triển kinh tế xã hội (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011).

Có 4 nhóm kịch bản gốc được phát triển bao gồm A1 và A2 (chú trọng kinh tế toàn cầu), B1 và B2 (chú trọng phát triển kinh tế vùng) (Hình 2. Các xu thế về khí hậu theo kịch bản phát thải trung bình của Bộ tài nguyên và Môi trường xây dựng được trình bày ở tiểu mục bên dưới.1 Các kịch bản biến đổi khí hậu (Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) Trương Thanh Tân (B1207296) LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4 Luận văn tốt nghiệp | Ngành QLTN&MT -------------------------------------------------------------------------------------------------------- 2.1 Nhiệt độ Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình (Hình 2.2), nhiệt độ trung bình tăng 2,5 0C – 3,0 0C trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác. Nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ 2,2 0C – 3,0 0C, nhiệt độ cao nhất trung bình tăng từ 2,0 0C – 3,2 0 C. Số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 35 0C tăng 10 – 20 ngày trên phần lớn diện tích cả nước.2 Thay đổi nhiệt độ theo kịch bản phát thải trung bình vào cuối thế kỉ 21 (Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) 2.2 Lượng mưa Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình (Hình 2.3), lượng mưa năm tăng trên hầu khắp lãnh thổ, mức tăng phổ biến từ 2 – 7%, riêng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3%.

Xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mùa mưa tăng. Lượng mưa ngày lớn nhất tăng thêm so với thời kỳ 1980 – 1999 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ. Tuy nhiên ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay. Trương Thanh Tân (B1207296) LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 5 Luận văn tốt nghiệp | Ngành QLTN&MT -------------------------------------------------------------------------------------------------------- Hình 2.3 Thay đổi lượng mưa (%) theo KB phát thải trung bình vào cuối thế kỷ 21 (Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) 2.3 Mực nước biển dâng Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011) thì các kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam được tính toán theo kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2) và kịch bản phát thải cao nhất (A1FI).

Các kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam so với giai đoạn 1980 - 1999 được thể hiện ở Bảng 2.1 Mực nước biển dâng (cm) ở các kịch bản Kịch bản Các mốc thời gian của thế kỷ 21 2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100 Thấp (B1) 11 17 23 28 35 42 50 57 65 Trung bình 12 17 23 30 37 46 54 64 75 (B2) Cao (A1FI) 12 17 24 33 44 57 71 86 100 (Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010) Các kịch bản nước biển dâng được xây dựng cho 7 khu vực bờ biển của Việt Nam (Hình 2.4), bao gồm: (1) Khu vực I bờ biển từ Móng Cái đến Hòn Dấu Trương Thanh Tân (B1207296) LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 6 Luận văn tốt nghiệp | Ngành QLTN&MT -------------------------------------------------------------------------------------------------------- (2) Khu vực II bờ biển từ Hòn Dấu đến Đèo Ngang (3) Khu vực III bờ biển từ Đèo Ngang đến đèo Hải Vân (4) Khu vực IV bờ biển từ Đèo Hải Vân đến Mũi Đại Lãnh (5) Khu vực V bờ biển từ Mũi Đại Lãnh đến Mũi Kê Gà (6) Khu vực VI bờ biển từ Mũi Kê Gà đến Mũi Cà Mau (7) Khu vực VII bờ biển từ Mũi Cà Mau đến Hà Tiên.4 Kịch bản nước biển dâng các khu vực ven biển Việt Nam (Nguồn: Vẽ lại theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào giữa thế kỷ 21, trung bình trên toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 24 – 27 cm. Đến cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 – 82 cm; thấp nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong 29 khoảng từ 49 – 64 cm. Trung bình toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 57 – 73 cm. Nếu mực nước biển dâng 65- 100 cm, khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam bị ngập hàng năm, trong đó 90% diện tích các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long bị ngập hoàn toàn.

Kịch bản trung bình (B2) được Bộ Tài nguyên và Môi trường khuyến nghị cho các Bộ, ngành và địa Trương Thanh Tân (B1207296) LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 7 Luận văn tốt nghiệp | Ngành QLTN&MT -------------------------------------------------------------------------------------------------------- phương làm định hướng ban đầu để đánh giá tác động của BĐKH – NBD và xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu.2 Các kịch bản về sự thay đổi nguồn nước thượng nguồn Các kịch bản được phát triển để phân tích ảnh hưởng của sự phát triển lên nguồn nước. Mức độ phát triển của năm 2000 được chọn làm điều kiện nền để đánh giá. Có rất nhiều lĩnh vực của sự phát triển ảnh hưởng đến nguồn nước như: đập thủy điện, kế hoạch tưới tiêu và nhu cần nước, đê bao khu vực ngập lũ (chiều cao, vị trí và vận hành). Đập thủy điện và tưới tiêu có ảnh hưởng lớn nhất (WB, 2004; MRC, 2005c).

Trong đó, ▪ Đập thủy điện làm thay đổi phân phối nước trong mùa khô và mùa mưa. ▪ Tưới tiêu làm chuyển dòng một lượng nước lớn từ sông Mêkong và các nhánh trong cả mùa khô và mùa mưa. Có 4 kịch bản được phát triển được thể hiện ở Bảng 2. Các kịch bản sử dụng hai chỉ tiêu bao gồm lượng trữ hoạt động và diện tích tưới để xây dựng kịch bản.

Mức độ phát triển của năm 2000 được sử dụng như kịch bản nền. Kịch bản phát triển thấp có lượng trữ hoạt động và diện tích tưới thấp. Kịch bản phát triển cao có lượng trữ hoạt động và diện tích tưới lớn.2 Các kịch bản thượng nguồn Kịch bản Xu hướng Kịch bản các đập Trung Quốc Phát triển cao các đập thủy điện và phát triển thấp tưới tiêu Kịch bản phát triển thấp Phát triển thấp các đập thủy điện và phát triển thấp tưới tiêu Kịch bản tưới tiêu Phát triển thấp các đập thủy điện và phát triển cao tưới tiêu Kịch bản phát triển cao Phát triển cao các đập thủy điện và phát triển cao tưới tiêu (Nguồn: MRC, 2005) Trương Thanh Tân (B1207296) LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 8 Luận văn tốt nghiệp | Ngành QLTN&MT -------------------------------------------------------------------------------------------------------- Hình 2.5 Mức độ phát triển ở các kịch bản thượng nguồn (Nguồn: MRC, 2005) 2.3 Tác động của BĐKH 2.1 Đối với đồng bằng sông Cửu Long a. Xâm nhập mặn Do vị trí địa lý tự nhiên ĐBSCL bị ảnh hưởng mặn cả từ phía biển Đông và phía biển Tây đặc biệt trong mùa kiệt khi lưu lượng thượng nguồn đổ về ít, độ dốc đáy sông nhỏ tạo điều kiện thuận lợi cho thủy triều xâm nhập sâu vào trong hệ thống sông kênh nội đồng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004; Lê Sâm, 2006).

Hơn nữa, cùng với tác động của chế độ bán nhật triều không đều ở biển Đông, cộng thêm ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng đặc biệt gió Đông (gió chướng) trong tháng 2 – 3 nên việc truyền mặn từ các vùng biển này vào các cửa sông cũng theo nhịp điệu của quá trình triều. Diễn biến độ mặn nền trên sông vùng ven biển ĐBSCL rất phức tạp và liên tục phụ thuộc vào chế độ dòng chảy không ổn định do dao động triều gây ra (Lê Sâm, 2007). Ngoài ra, dòng chảy ở vùng ven biển chịu ảnh hưởng bởi sự biến động về hải lưu, gió bão. Tháng 12 là giai đoạn chuyển mùa, gió thổi ngược chiều dòng chảy sông Cửu Long (hướng Tây Bắc – Đông Nam) đẩy nước mặn theo triều vào sâu trong nội địa, gây khó khăn cho sản xất nông nghiệp (Lê Anh Tuấn, 2008).

Vào mùa khô nguồn nước ngọt duy nhất cung cấp cho ĐBSCL là lưu lượng nước từ sông Mekong chuyển qua sông Tiền và sông Hậu (Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và Môi trường, 2011). Nhìn chung, xâm nhập mặn gây khó khăn cho việc cung cấp nước ngọt trong sinh hoạt và sản xuất của người dân, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp. Xâm nhập mặn kéo Trương Thanh Tân (B1207296) LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 9 Luận văn tốt nghiệp | Ngành QLTN&MT -------------------------------------------------------------------------------------------------------- dài gây thiếu nguồn nước cho nuôi trồng thủy sản nước ngọt, từ đó làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái dẫn đến hệ đệm thực vật ven sông và nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn cục bộ (Chi cục Môi trường khu vực Tây Nam Bộ, 2011). Ở một số tỉnh ven biển như Bạc Liêu, Kiên Giang, Bến Tre việc xây dựng các đê ngặn mặn gây ra thiếu nước mặn trong mùa khô làm cho đất dễ bị axit hóa, suy giảm chất lượng đất sản xuất nông nghiệp (N.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận yếu tố tích cực của xâm nhập mặn như: (i) giúp cho sự phát triển của các rừng ngập mặn, (ii) là nơi cư trú của nhiều loài chim và nhiều nguồn thủy sản phong phú khác như tôm, cua, cá nước mặn đặc biệt là duy trì các hệ sinh thái các vùng ven biển như bãi bùn, cửa sông, các đầm nước lợ, nước mặn và (iii) làm giảm độ chua của phèn tiềm tàng trong đất (Molle. Sự hiện diện của vùng nước lợ hay nước mặn được xem là sự ảnh hưởng tích cực đến đời sống của nông dân vùng ven biển (Miller, 2003).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ