chương 1. Chương 2 phân tích các phương pháp Đánh giá tác động trước (Ex-ante methods) và chương 3 bao gồm các phương pháp Đánh giá tác động sau (Post-ante methods). Trong công trình này, tác giả bình luận khá rõ những ưu điểm và nhược điểm của mỗi phương pháp và so sánh kết quả của các nghiên cứu trước đây. Trên cơ sở phân tích sâu FTA ở các nước đang phát triển, tác giả nhận định FTA mang lại nhiều lợi ích cũng như thách thức khác nhau cho các quốc gia này trong chương 4.
Công trình về phương pháp chỉ số. Để đánh giá được các tác động của FTA đến mối quan hệ thương mại giữa các thành viên một trong những phương pháp chính được sử dụng là các chỉ số. Chỉ số Lợi thế cạnh tranh hiện hữu (Revealed 19 Comparative Advantage (RCA) cũng được áp dụng bởi nhiều tác giả để tính toán lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia trong khi tham gia các hiệp định thương mại. Công trình nghiên cứu “Revealed Comparative Advantage and Competitiveness: Evidence for Turkey vis-à-vis the EU/15” của Utku Utkulu and Dilek Seymen (2004) phần lớn dựa vào sự khác biệt giữa chỉ số RCA để phân tích khả năng cạnh tranh của các sản phẩm chuyên biệt hóa từ Thổ Nhĩ Kỳ vào EU để tận dụng được tối đa lợi ích của Liên minh Thuế quan đồng thời kiểm định các tác động của Liên minh này đến mô hình thương mại, lợi thế so sánh và cạnh tranh của các quốc gia thành viên.
Ngoài ra, bài nghiên cứu của Edgar Sebei (2006) có tiêu đề “Trade potential between South Africa and Kenya” cũng sử dụng chỉ số tiềm năng xuất khẩu và nhập khẩu để đánh giá khả năng trao đổi thương mại ngành nông nghiệp giữa Nam Phi và Kenya. Theo đó, từ kết quả tính toán, tác giả cho rằng, Nam Phi và Kenya đang phải chịu áp lực cạnh tranh từ các quốc gia ngoại khối như Anh, Hà Lan điều này giảm lợi ích thương mại và phúc lợi xã hội trong nước. Để giảm thiểu được điều này, tác giả cho rằng, hai quốc gia cần đưa thêm nhiều ưu đãi về thuế hơn, đặc biệt chú trọng các mặt hàng nông sản có tiềm năng. Công trình tập thể đáng chú ý là nghiên cứu của Sayeeda Bano, Yoshiaki Takahashi, Frank Scrimgeour (2013) có tiêu đề “ASEAN-New Zealand Trade Relations and Trade Potential: Evidence and Analysis”.
Nhóm tác giả đã sử dụng các chỉ số như chỉ số cường độ xuất khẩu, cường độ nhập khẩu và tiềm năng thương mại để đánh giá vai trò của thuế quan đổi với quan hệ thương mại giữa New Zealand và ASEAN giai đoạn 1980-2010. Từ kết quả tính toán, nhóm tác giả đưa ra kết luận rằng mặc dù có nhiều biến động song thương mại giữa New Zealand và ASEAN vẫn phát triển. Trong đó, Philippines, Indonesia, Vietnam, Malaysia và Thái Lan là các quốc gia có cường độ thương mại và tiềm năng thương mại lớn đối với New Zealand nhờ những ưu đãi thuế quan đưa ra trong lộ trình giảm thuế trong các hiệp định thương mại đã được ký kết. Công trình về mô hình trọng lực.
Để đánh giá tác động của FTA đến nền kinh tế quốc tế, nhiều tác giả đã sử dụng Mô hình trọng lực (Gravity model). Mô hình trọng lực dự đoán được dòng chảy song phương dựa trên kích thước của nền kinh tế (thường dùng GDP) và khoảng cách địa lý. Có nhiều nghiên cứu sử dụng Mô hình trọng lực với một số điều chỉnh để phù hợp với đối tượng nghiên cứu. Immaculada Martinez-Zarzoso (2003) với bài nghiên cứu “Gravity model: An application to trade 20 between regional blocs” đã sử dụng Mô hình trọng lực để đánh giá dòng chảy thương mại giữa 47 quốc gia cũng như tác động của các hiệp định ưu đãi giữa nhiều khối kinh tế như Liên minh Châu Âu (EU), Hiệp định mậu dịchTự do Bắc Mỹ (NAFTA), Cộng đồng Caribe (CARICOM), Liên minh Châu Âu (EU), Thị trường Chung Trung Mỹ (CACM), và các quốc gia Địa Trung Hải khác.
Từ Mô hình trọng lực, tác giả đã so sánh được mức độ ảnh hưởng của các hiệp định ưu đãi cũng như các yếu tố liên quan như khoảng cách địa lý, thu nhập, dân số, mức tương đồng về văn hóa. Các phân tích theo từng năm của mẫu chỉ ra sự phát triển theo thời gian của các tác động về thương mại của các biến khác nhau. Nhóm tác giả Swapan K. Bhattacharyay (2007) với công trình nghiên cứu “Gains and Losses of India-China Trade Cooperation - A Gravity Model Impact Analysis” đã sử dụng Mô hình trọng lực để phân tích mặt tích cực và hạn chế của hợp tác thương mại giữa Trung Quốc và Ấn Độ thông qua các hiệp định mà hai quốc gia cùng tham gia.
Kết quả cho thấy, trong ngắn hạn, những lợi ích mà Ấn Độ đạt được thấp hơn Trung Quốc do mức thuế cao, song về dài hạn, khi mức thuế được đưa về ngang bằng nhau thì kết quả ngược lại. Ngoài ra, các tác giả cũng khẳng định, thương mại tự do giúp hai quốc gia cùng đạt được lợi ích (win- win) và tăng sự thống trị của hai quốc gia này đối với nền thương mại quốc tế. Gần đây nhất, báo cáo của Shiro Armstrong (2015) có tên “The economic impact of the Australia–United States free trade agreement” đã sử dụng phương pháp mô hình lực hấp dẫn để đánh giá hiệu quả kinh tế của Hiệp định thương mại tự do Australia-Mỹ (AUSFTA) đối với quan hệ thương mại giữa hai quốc gia. Các bằng chứng cho thấy AUSFTA gây nên hiện tượng chuyển hướng thương mại khi làm giảm xuất nhập khẩu của cả Australia và Mỹ đối với phần còn lại của thế giới.
Mô hình cũng chỉ ra rằng AUSFTA có ảnh hưởng đến việc giảm thương mại giữa Australia và Mỹ. Điều này có thể thấy Hiệp định AUSFTA thực sự không có hiệu quả. Mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Australia và New Zealand đã được đề cập trong nhiều công trình công bố ở nước ngoài. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học trực tiếp nghiên cứu về vấn đề này còn khiêm tốn.
Lý do là Việt Nam đã thiết lập quan hệ với Australia (năm 1973) và New Zealand (năm 1975), song sự hợp tác giữa hai nước mới được đẩy mạnh trong những năm gần đây. Trong số các công 21 trình nghiên cứu trước đây, đáng chú ý là công bố của Ủy ban Thường vụ chung về ngoại giao, quốc phòng và thương mại Australia (Joint Standing Committee on Foreign Affairs, Defence and Trade) (1998) “Australia and ASEAN: Managing Change”, báo cáo đã tổng quan khá đầy đủ mối quan hệ lịch sử giữa Australia và ASEAN. Riêng Chương 5 về mối quan hệ kinh tế giữa Australia và ASEAN đã khái quát thương mại và đầu tư song phương giữa Việt Nam và Australia trong giai đoạn 1990-1997. Theo đánh giá của hội đồng, trong giai đoạn tiếp theo, Australia tăng cường đầu tư vào Việt Nam thông qua nhiều kênh như tài chính, đầu tư trực tiếp…từ đó tăng cường trao đổi thương mại với Việt Nam cũng được gia tăng hơn.
Về quan hệ Việt Nam với New Zealand, tác giả James Kember (2008) đã nghiên cứu đến mối quan hệ toàn diện giữa hai nước trong công trình nghiên cứu “Vietnam - New Zealand cooperation at multilateral regulations: ASEAN, East Asian Summit and the United Nations”. Nghiên cứu này đề cập đến việc thành lập và phát triển mối quan hệ giữa Việt Nam và New Zealand bao gồm cả hợp tác khu vực và hợp tác thương mại. Tác giả khẳng định rằng, đối thoại chính sách song phương và hợp tác đa phương là chính sách phù hợp cho cả hai nước. Không chỉ phân tích mối quan hệ lịch sử giữa 2 nước mà công trình còn đề xuất một số định hướng chính sách tăng cường hợp tác song phương.
Tuy nhiên, vì chỉ tập trung đánh giá toàn diện, nghiên cứu này đã chưa phân tích sâu sắc quan hệ thương mại Việt Nam-New Zealand. Công trình của Daljit Singh (2011) có tên “ASEAN’s perspective of New Zealand’s place in Asia” chỉ ra mối quan hệ và triển vọng của New Zealand tại Châu Á dưới góc nhìn của các quốc gia ASEAN trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng New Zealand có vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế của Việt Nam. Nguyên nhân do New Zealand đã chính thức công nhận Việt Nam có một nền kinh tế thị trường, trong khi "phần lớn các nền kinh tế trên thế giới đã không làm như vậy”.
Ngoài ra, New Zealand là thành viên tích cực hỗ trợ cho Việt Nam trong quá trình đàm phán và tham gia WTO và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam đã hoan nghênh New Zealand trong việc sử dụng sức mạnh mềm của mình tham gia vào các vấn đề của Châu Á. Báo cáo của Văn phòng về Hiệu quả Phát triển (Office of Development Effectiveness) (2015) với tên “Evaluation of the Australia-Vietnam country strategy 2010-15” đã đánh giá hiệu quả của việc phát triển và thực hiện chiến lược quốc gia 22 của Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT) đối với việc hỗ trợ cho sự phát triển của Việt Nam nhằm tăng cường quan hệ hai bên trong giai đoạn 2010-2013. Theo đó, các hỗ trợ của Australia đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam, hỗ trợ cho quá trình hội nhập kinh tế thông qua việc củng cố hệ thống cơ sở hạ tầng và cải thiện môi trường bền vững quốc gia.
Ngoài ra, nhóm tác giả nhận định rằng sự hỗ trợ của DFAT cho Việt Nam vẫn phải cân nhắc một số vấn đề sau năm 2015 như: tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân, hội nhập khu vực, nhất là xây dựng mạng lưới sản xuất để tận dụng lợi ích của FTA, quản lý danh mục đầu tư tích cực hơn. Từ những đánh giá trên, báo cáo đưa ra 04 nhóm khuyến nghị cho chương trình của DFAT trong các năm tới để hỗ trợ cho sự phát triển của chiến lược quốc gia mới của Việt Nam. Các nghiên cứu liên quan đến Hiệp định AANZFTA và tác động của Hiệp định này có một số công trình như sau: Công trình nghiên cứu của Jemma Bailey và Patricia Ranald (2005) với tên “Submission to the Asia Trade Task Force on the Australia–ASEAN–New Zealand Free Trade Agreement from the Australia Fair Trade & Investment Network (AFTINET)” đã đưa ra đánh giá về tác động của AANZFTA. Cụ thể, công trình nghiên cứu được thực hiện 4 năm trước khi AANZFTA được ký kết, trong đó đã đánh giá tác động của Hiệp định này đến quyền con người và điều kiện lao động, việc làm, môi trường, các nhóm dân cư xét theo từng vùng và ngành công nghiệp cụ thể, khả năng của chính phủ để điều tiết lợi ích của cộng đồng và của các nước đang phát triển trong việc định hướng phát triển quốc gia.
Công trình nghiên cứu bao gồm bốn phần chính.