chương 1, tác giả đề cập đến lý do thực hiện bài nghiên cứu đồng thời qua chương này tác giả còn đặt ra các vấn đề xoay quanh bài nghiên cứu như mục tiêu, câu hỏi và phương pháp sẽ được thực hiện trong đề tài, kết quả đạt được sau khi thực hiện bài nghiên cứu. Tiếp theo trong chương 2, tác giả sẽ đi tìm hiểu về những khái niệm, những cơ sở lý luận và những lý thuyết liên quan là nền tảng để tác giả tiến hành thực hiện bài nghiên cứu. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHƯƠNG TRÌNH THƯỞNG CỔ PHIẾU CHO NHÂN VIÊN ESOP VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHƯƠNG TRÌNH THƯỞNG CỔ PHIẾU CHO NHÂN VIÊN (ESOP) 2.1 Khái niệm chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên Chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên hay còn được biết đến là chương trình phát hành cổ phiếu thưởng cho cán bộ nhân viên (CBNV) có tên tiếng anh là Employee Stock Ownership Plan (ESOP). Được hiểu cơ bản là việc công ty tiến hành thực hiện thưởng cổ phiếu của chính công ty mình thay vì tiền mặt cho người lao động đang làm việc tại công ty với giá phát hành ưu đãi hơn đi kèm với các quyền lợi tốt hơn cho người lao động.
Được đưa ra lần đầu tại Mỹ vào năm 1956 bởi Louis O. Kelso với ý tưởng phát hành cổ phiếu thưởng cho nhân viên được sự ủng hộ của các bên liên quan và dần dần chương trình này được mở rộng tại Mỹ và các nước lân cận. Về sau Mỹ đã xây dựng chương trình này có khung pháp lý hoàn chỉnh theo đạo luật ERISA 1975 hay còn gọi là Employee Retirement Income Security Act và được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia khác trên thế giới (DODDS 1976). Trong những năm đầu, ý tưởng được đề xuất theo Kelso giải quyết được hai vấn đề chính đó là có thể huy động vốn với chi phí thấp mà doanh nghiệp cần, ngoài ra còn có thể mang lại hiệu quả tiềm năng gắn bó nhân viên với công ty có thể cho phép nhân viên trở thành cổ đông doanh nghiệp mình đang làm việc.
Tại Việt Nam quy định về ESOP có trong thông tư số 162/2015/TT-BTC được ban hành bởi Bộ tài chính thì chương trình trên được gọi là “Phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn người lao động”. Theo Nguyễn Minh Tâm (2009) và Vũ Trọng Quang (2021) có giải thích thì chương trình ESOP được chia thành hai dạng khi áp 9 dụng tại Việt Nam. Một là dùng làm cổ phiếu để thưởng cho nhân viên tham gia ESOP, trong 3-5 năm tới thì chúng sẽ được chuyển thành cổ phiếu phổ thông và trong vòng thời gian đó thì chúng sẽ bị hạn chế các quyền lợi do công ty quy định. Hai là, ESOP được thể hiện như là chương trình quyền chọn mua cổ phần, với người chọn mua là nhân viên được trao quyền mua cổ phần công ty với mức giá định trước được định vào một ngày xác định (ESO).
Khi thực hiện ESOP thì có nhiều điều kiện mà doanh nghiệp phải tuân theo để có thể phát hành được như chỉ phát hành CBCNV cấp cao, hay nhân viên mang lại nhiều lợi ích và có sự ghi nhận đóng góp cống hiến, ESOP còn quy định ràng buộc thời gian các quyền liên quan tùy theo các doanh nghiệp. Tùy theo quy định của từng công ty sử dụng để thực hiện chương trình nhưng về hình thức chung chính là phát hành cổ phiếu cho các cán bộ công nhân viên được lựa chọn cẩn thận với các ưu đãi nhất định, nhằm gắn kết người lao động với công ty, thúc đẩy người lao động thực hiện cống hiến, gắn lợi ích công ty với lợi ích của chính họ.2 Các thuận lợi và rủi ro khi thực hiện chương trình ESOP 2.1 Thuận lợi khi thực hiện chương trình ESOP Tăng vốn chủ sở hữu cho công ty Theo Nguyễn Thị Thủy và Cao Thị Huyền Trang (2022) “Vì hình thức thưởng không phải bằng tiền mặt nên nhờ đó sẽ tăng vốn chủ sở hữu cho doanh nghiệp, số vốn này sẽ được dùng vào nhiều việc hữu ích như tái đầu tư vào các dự án mới và rất nhiều cơ hội đầu tư khác” bài báo nêu ra những ưu điểm của cổ phiếu ESOP tác động đến doanh nghiệp. Ta có thể thấy rõ ràng khi một công ty thực hiện phát hành cổ phiếu thì việc vốn chủ sở hữu của công ty sẽ tăng lên và chương trình ESOP cũng không ngoại lệ ngoại trừ một số công ty thực hiện chương trình với giá 0 đồng như của CTCP Thế giới di động thì còn lại việc hiện phát hành cổ phiếu cho CBCNV của mình chính việc làm đó không tăng nguồn vốn hiện có Thanh tú (2024), với giá phát hành thấp hơn so với giá trên thị trường, đây chính là điểm thu hút người lao động 10 xuống tiền để có thể mua được những cổ phiếu trên. Nguồn tiền thu được doanh nghiệp có thể sử dụng nó cho hoạt động đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh (Lê Phương Lan 2023).
Tránh sát nhập và thâu tóm Doanh nghiệp thực hiện phát hành cổ phiếu sẽ có thể loại bỏ nguy cơ bị các công ty đối thủ cạnh tranh tiến hành mua lại để kiểm soát, thôn tính. Việc phát hành cổ phiếu ESOP vừa có thể tránh được thực trạng trên vừa có thể huy động được nguồn vốn mong muốn. Ngoài ra, với việc giới hạn số lượng và chỉ phát hành cho những cán bộ nhân sự cấp cao thì việc này còn có thể làm gia tăng quyền kiểm soát từ ban lãnh đạo công ty (Nguyễn Thị Thủy và Cao Thị Huyền Trang 2022). Khen thưởng và khích lệ người lao động nâng cao hiệu suất Do khối lượng hạn chế phát hành trong mỗi 12 tháng chương trình chỉ được phát hành không vượt quá 5% số lượng cổ phiếu lưu hành công ty và phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua theo Điều 64 Nghị định 155/2020/NĐ-CP quy định nên số lượng phát hành khá hạn chế, vì vậy ESOP là cổ phiếu phát hành chủ yếu cho lực lượng lao động chủ chốt, có sự cống hiến và ghi nhận thành tựu với công ty, mục đích chính phát hành ESOP nhằm giữ lại những lao động giỏi và có năng lực (Hall và Murphy 2002).
Đồng thời, giá phát hành của cổ phiếu ESOP thường có giá ưu đãi hơn so với giá thực hiện trên thị trường nhờ vậy người lao động họ sẵn sàng tham gia. Khi họ tham gia vào chương trình cũng là lúc họ có sự gắn kết nhiều hơn với công ty, gắn liền lợi ích doanh nghiệp vào lợi ích của chính họ. Nhờ vậy, có thể nói khi thực hiện chương trình ESOP có thể vừa khen thưởng và vừa khích lệ cho người lao động (Lê Phương Lan 2023). Giảm thuế cho doanh nghiệp và người lao động.
Theo quy định của các khoản thưởng bằng tiền mặt cho người lao động doanh nghiệp sẽ được tính vào chi phí quản lý, chi phí này làm giảm lợi nhuận trước thuế và đây cũng là lợi ích khi thực hiện chương trình ESOP. Ngoài ra, nếu thưởng bằng 11 tiền mặt, thì số tiền này được tính thuế từ thuế thu nhập cá nhân. Hơn ai hết nếu càng giữ chức vụ chủ chốt thì số tiền họ nhận được trên đồng lương được trả bởi doanh nghiệp khá cao. Tham gia vào ESOP cũng hạn chế được một phần thuế này (Thanh tú 2024).
Theo bài báo của tác giả Vũ Trọng Quang (2021) cũng đưa ra lập luận tương tự, việc doanh nghiệp phát hành ESOP cũng giảm thuế thu nhập cho các nhân sự thu nhập cao và đồng thời quản lý thu nhập và nâng cao lợi nhuận công ty. Ngoài ra, theo bài báo của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân (2022) sau khi nghiên cứu doanh nghiệp thực hiện ESOP trong ngành tài chính ngân hàng thì đưa ra kết luận rằng có sự cam kết và gắn bó tình cảm Như vậy, việc doanh nghiệp sử dụng ESOP ngoài những lợi ích kể trên thì còn giúp cho người lao động, nhân viên công ty có sự gắn bó hơn về mặt tình cảm.2 Rủi ro khi thực hiện chương trình ESOP Pha loãng cổ phiếu hiện hành Việc doanh nghiệp thực hiện phát hành ESOP ảnh hưởng đến chỉ số EPS hay còn gọi là Earning per share đây là phần lợi nhuận mà công ty sẽ thực hiện trả những người nhằm giữ cổ phần thường đang lưu hành trên thị trường. Việc giá phát hành ESOP ưu đãi hơn với giá phát hành cổ phiếu thông thường và số lượng cổ phiếu sẽ nhiều hơn thì sẽ ảnh hưởng đến chỉ số này. Mô hình thưởng cổ phiếu cho CBCNV ESOP xuất phát từ Mỹ và phát triển ở các nước Châu Âu, tại các quốc giá trên mô hình có sự tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cân bằng và hợp lý về số lượng phát hành.
Nhưng đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi áp dụng chương trình thưởng ESOP thì phát hành số lượng liên tục không kiểm soát tốt làm tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành, đối với các doanh nghiệp tăng trưởng tốt thì không vấn đề còn đối với các doanh nghiệp với mức tăng trưởng không ổn định hay tốc độ chậm về tăng trưởng thì đây sẽ là ảnh hưởng gây loãng cổ phiếu tác động đến các cổ đông hiện hữu. 12 Ảnh hưởng đến kết quả đầu tư Theo bài báo Nguyễn Thanh Tùng (2022) đề cập đến ảnh hưởng của công ty khi thực hiện chương trình này. Số lượng cổ phiếu ESOP thì liên tục tăng tuy nhiên về tăng trưởng lợi nhuận công ty không tăng đều như kỳ vọng thì nó còn gây ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư. Khi chỉ số EPS doanh nghiệp có xu hướng giảm nguyên nhân quá nhiều chương trình ESOP thực hiện thì các nhà đầu tư ngay lập tức sẽ có cái nhìn tiêu cực về khả năng sinh lời của của công ty, đây cũng sẽ là nhân tố tác động đến quyết định đầu tư và mua cổ phiếu của công ty trong tương lai.
Mặc khác, một vấn đề bất lợi mà trong bài báo của Nguyễn Thanh Tùng (2022), Nguyễn Thị Thu Thủy và Cao Thị Huyền Trang (2022) có đề cập đến đó chính là chủ doanh nghiệp họ sẽ sử dụng nguồn tiền từ những cổ đông tham gia vào công ty nhằm thực hiện ESOP chia cho thành viên nội bộ, trong thời gian ngắn hạn thì để đạt được đạt được mục đích trên thì họ sẽ phải cần nguồn chi phí và nguồn chi phí này thường được lấy từ các nguồn marketing hay R&D, trong tương lai gần sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp.2 KHÁI NIỆM VÀ CÁC YẾU TỐ ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP 2.1 Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.