CHƯƠNG I TONG QUAN VE DOANH NGHIEP NHO VA VUA NGOAI QUOC DOANH 1.1- SU CAN THIẾT CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VUA TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN.1- Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là hình thức kinh doanh khá phổ biến trong nên kinh tế của mỗi quốc gia dù là ở các nước phát triển hay đang phát triển, thông thường DNNVV chiếm từ 60% đến trên 90% tùy thuộc vào đặc điểm và trình độ phát triển của mỗi nước. DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các lính vực hoạt động, có tư cách pháp nhân, có giới hạn về quy mô, dựa trên các tiêu chí về vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng đạt được trong từng thời kỳ. Theo Nghị định số 90/2001NĐ-CP ngày 23-01-2001 của Chính phủ về “Trợ giúp phát triển DNNVV” thì: “DNNVV là cơ sở sản suất kinh doanh, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Định nghĩa trên, đứng trên phương diện quản lý của Nhà nước nó mang tính pháp định, nên có những ràng buộc khá chặt chẽ. Song nếu nhìn trên gốc độ về quan niệm và sự vận động của DNNVV theo quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thì có thể có khái niệm: “DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, không i] phân biệt các thành phần kinh tế, có quy mô về vốn, lao động, doanh thu và giá trị gia tăng thỏa mãn các quy định của Nhà nước đối với từng ngành nghề tương ứng, phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển của nên kinh tế và trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế”.2- Sự cân thiết của DNNVY trong nền kinh tế quốc dân. Nền sản xuất hàng hóa phát triển từ trình độ thấp đến cao và ứng với quá trình đó, hình thái, quy mô và cơ cấu sản xuất kinh doanh cũng phát triển dân từ kinh tế cá thể nhỏ lẻ, đến tập trung với quy mô nhỏ, vừa và lớn. Điều đó được quyết định bởi trình độ của lực lượng sản xuất, khả năng tích tụ vốn và yêu cầu của phân công lao động xã hội qua các thời kỳ.
Từ nền kinh tế hàng hóa giản đơn đến nền kinh tế thị trường, trình độ cao của nền kinh tế hàng hóa, cơ cấu về hình thái và trình độ sản xuất từ cá thể, sản xuất vừa và sản xuất lớn luôn đan xen tồn tại và phát triển. Trong đó, DNNVV luôn giữ vị thế quan trọng trong suốt quá trình lịch sử của nền sản xuất hàng hóa, có nghĩa là cho đến nay trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường, DNNVV vẫn còn có chỗ đứng và đó như là một tất yếu khách quan. Điều nầy có thể giải thích bởi những nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, trong quá trình vận động của nền kinh tế, lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong mỗi nước, mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi lĩnh vực hoạt động có sự phát triển không đồng đều. Điều nầy như là một nhân tố tác động đến sự khác nhau về quy mô trong sản xuất kinh doanh và luôn có sự chuyển hóa về chất lượng hình thức và quy mô của chúng trong quá trình phát triển của nền kinh tế.
Thứ hai, trong thực tế các cấp độ về quy mô đó (quy mô nhỏ, quy mô vừa và lớn trong sản xuất kinh doanh) luôn bổ sung cho nhau về những ưu thế và những hạn chế giữa chúng, nhằm đảm bảo nhu cầu về việc da dạng hóa sản phẩm, giá cả tiêu dùng cho mọi tầng lớp dân cư. Thứ ba, sự phát triển đan xen giữa các loại quy mô trong sản xuất kinh doanh cũng là yếu tố thu hút các tầng lớp dân cư tham gia khai thác mọi tiềm lực kinh tế, giải phóng mọi năng lực sản xuất, tạo nhiều nguồn lực tài chính cho nền kinh tế quốc dân. Thứ tư, DNNVV yêu cầu vốn không cao, phù hợp với các doanh nhân mới lập nghiệp, vốn đầu tư ít, bổ sung kịp thời những “khoảng trống” trong hoạt động kinh doanh và đón đầu các ngành nghề hoặc các lính vực kinh doanh mới. Thứ năm, với lợi thế là dễ phát triển ở mọi cấp độ kinh tế, số lượng nhiều và hoạt động linh hoạt nên DNNYVV tạo nhiều việc làm cho đại chúng, kể cả lao động có học vấn và lao động phổ thông; xây dựng được mối quan hệ bình đẳng giữa chủ và người làm công.
Thứ sáu, DNNVV là cơ sở để tích tụ vốn, từng bước hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn, góp phần tích cực về sản phẩm và tích lũy cho nền kinh tế quốc dân. Hiện tại, ở các nước đang phát triển, trình độ của lực lượng sản xuất cao, song DNNVV van còn giữ vị thế quan trọng. Ở các nền kinh tế đó, đơn cử như Đài Loan, hiện nay DNNVV vẫn còn chiếm trên 90% trong tổng số doanh nghiệp và chiếm tỷ phần đáng kể trong GDP. Việt Nam là nước kinh tế đang phát triển, nên sản xuất còn lạc hậu, do vậy vị thế của DNNVV còn lớn và còn nhiều cơ hội để phát triển lâu dài.
Trên thực tế, rất nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, DNNVV chủ yếu là thuộc khu vực kinh tế tư nhân.1- Tính tất yếu của kinh tế tư nhân trong nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế tư nhân có nguồn gốc phát sinh, tổn tại, phát triển của nó gắn với quá trình phân công lao động xã hội và sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa. Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa và phân công lao động xã hội; các hình thái, cơ cấu, quy mô và tính chất của sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân cũng được thay đổi thích ứng. Điều nây đã được thể hiện qua các phương thức sản xuất trong các thời kỳ lịch sử.
Ở phương thức sản xuất nô lệ, thời kỳ sơ khai của kinh tế hàng hóa, sở hữu tư nhân tồn tại bằng chế độ chiếm hữu nô lệ; dưới chế độ phong kiến, sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân mặc dù bị nhiều thế lực kìm hãm, song chính nó đã tạo ra những động lực cho việc hình thành nền sản xuất hàng hóa giản đơn dưới hình thái các công trình đại thủ công, thúc đẩy kinh tế phát triển và tạo tiền để cho sự hình thành nền đại công nghiệp của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản với buổi ban đầu tích lũy nguyên thủy, bằng phương thức bóc lột dã man đã từng bước tạo nền tảng của nền đại công nghiệp. Đứng trên góc độ của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, cho thấy khi lực lượng sản xuất càng phát triển, thì quan hệ sản xuất mà trong đó, cốt lõi là quan hệ sở hữu sẽ từng bước được tập trung hóa và xã hội hóa một cách tương ứng với trình độ của lực lượng sản xuất đó. Điều nầy cũng có nghĩa là, khi lực lượng sản xuất ở trình độ thấp, thì ứng với nó là sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu nhỏ, phân tán.
Lực lượng sản xuất từng bước phát triển sẽ là tỷ lệ thuận với tiến trình xã hội hóa quan hệ sở hữu và tiến tới đỉnh cao là sở hữu xã hội (trước đây gọi là sở hữu toàn dân). Đơn cử, từ hình thức hộ gia đình, kinh tế cá thể, kinh tế quy mô nhỏ, quy mô vừa và trình độ cao hơn là kinh tế hỗn hợp (công ty cổ phần, tập đoàn kinh tế, công ty đa quốc gia.), là những biểu hiện của quá trình tập trung hóa và xã hội hóa, mà yếu tố quyết định là mối quan hệ hữu cơ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Từ cách nhìn đó, để đi đến quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam còn là quá trình lâu đài. Ở Việt Nam, do lực lượng sản xuất còn ở mức thấp, việc tồn tại nhiều hình thức sở hữu và đa thành phần kinh tế là tất yếu khách quan.
Trên thực tế nền sản xuất của Việt Nam còn lạc hậu, quy mô nhỏ, lại đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta bỏ qua những thành tựu có tính quy luật của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta bỏ qua phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với nội hàm là không xây dựng chủ nghĩa tư bản như một hình thái kinh tế - xã hội, chứ không phải phủ định các hình thái kinh tế - kỹ thuật và những nhân tố tích cực mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra. Để làm tiền đề cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt, chúng ta lại phải trải qua thời kỳ quá độ, mà trong thời kỳ đó chúng ta phải kế thừa những thành quả của chủ nghĩa tư bản như nền đại công nghệ, các hình thức sở hữu kinh tế, các yếu tố của nền kinh tế thị trường và các quy luật khách quan vốn dĩ của quá trình tiến hóa lịch sử. Kinh tế thị trường thực chất là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, và phân công lao động đạt đến mức độ khá hoàn hảo.
Đặc trưng của nền kinh tế thị trường là kinh tế nhiều thành phần. Việt Nam phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng không nằm ngoại lệ đó, song cũng có sự khác biệt nhất định về tính chất xã hội hóa, tính chất của quan hệ sản xuất, cơ cấu và phương thức hoạt động của nó được quyết định bởi vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Tóm lại, sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân phát triển có tính quy luật, gắn với sự vận động của nền kinh tế hàng hóa và tính chất, trình độ của nó luôn chịu sự tác động trong mối quan hệ hữu cơ giữa hai “đại lượng ` là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử. Điều nầy cho thấy rằng, việc phủ định sự hiện diện của các thành phần kinh tế hoặc “kiêng cưỡng" về sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu và thành phần kinh tế như là một giải pháp tình thế hay sách lược sẽ là không tôn trọng quy luật kinh tế khách quan.
Thực tế sau 20 năm chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường (kinh tế hàng hóa nhiều thành phần), nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh và bền vững.