CHƯƠNG I - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẾN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÁC CƠ SỞ BÁN LẺ NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài và quản lý Nhà nước đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài 1. Một số vấn đề chung về bán lẻ và cơ sở bán lẻ nước ngoài 1. Bán lẻ Có nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ, trong đó có một số định nghĩa tiêu biểu sau đây: Theo định nghĩa trong cuốn Marketing căn bản của Philip Kotler: Bán lẻ là mọi hoạt động nhằm bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng cho cá nhân, không mang tính thương mại.
Bất kỳ một tổ chức nào làm công việc này cũng là một tổ chức bán lẻ, bất kể hàng hóa hay dịch vụ đó được bán như thế nào (bán trực tiếp, qua bưu điện, qua điện thoại, hay qua máy bán hàng tự động) và ở đâu (trong cửa hàng, trên đường phố hay tại nhà người tiêu dùng). Theo danh mục phân loại của tài liệu số TN.GNS/W/120 (W/120) vòng đàm phán Uruguay của WTO và danh mục chính tạm thời của Liên Hợp quốc định nghĩa: “Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa cho người tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, ki ốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan”. Theo Khoản 7, Điều 3 của Nghị định 09/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam định nghĩa “Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa cho cá nhân, hộ gia đình, tổ chức khác để sử dụng vào mục đích tiêu dùng”. Tuy có nhiều định nghĩa bán lẻ hàng hóa theo nhiều cách khác nhau nhưng có thể hiểu bán lẻ là hoạt động dịch vụ đưa hàng hoá hoặc dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng (tiêu dùng cá nhân hay tiêu dùng gia đình).
Nghĩa là, bán lẻ 6 hàng hóa là công đoạn cuối cùng của khâu lưu thông để sản phẩm đến với người tiêu dùng. Cơ sở bán lẻ Cơ sở bán lẻ là địa điểm thực hiện hoạt động bán lẻ (Theo quy định tại Khoản 8, Điều 3 của Nghị định 09/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam). Nghị định số 09/2018/NĐ-CP của Chính phủ ra đời nhằm thực thi cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực thương mại sau khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO. Nghị đinh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2018 thay thế Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Nghị định này hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Thương mại ngày 14/6/2005 và Luật Quản lý ngoại thương ngày 12/6/2017. So với Nghị định số 23/2007/NĐ-CP, Nghị định số 09/2018/NĐ-CP bổ sung quy định “Nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định tại Nghị định này; trường hợp Điều ước quốc tế quy định khác với quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó. Các loại hình cơ sở bán lẻ nước ngoài Cơ sở bán lẻ nước ngoài là đơn vị thuộc sở hữu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện quyền phân phối bán lẻ tại nước sở tại. Cơ sở bán lẻ nước ngoài bao gồm: Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
7 Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông (Theo Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014). Trước đây các nhà phân phối dịch vụ bán lẻ nước ngoài khi vào Việt Nam thường dưới hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2009 Việt Nam mở cửa hoàn toàn dịch vụ phân phối theo cam kết gia nhập WTO thì doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam.
Khi tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam những doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài thường thành lập các cơ sở bán lẻ hiện đại có trang bị kỹ thuật tiên tiến, hỗ trợ tối đa khách hàng trong việc mua hàng như: a. Căn cứ vào cơ cấu chủng loại hàng hóa kinh doanh, siêu thị được phân chia thành 02 loại: Siêu thị kinh doanh tổng hợp và Siêu thị Chuyên doanh.Trung tâm thương mại (TTTM) Trung tâm thương mại (Trade centre) “là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa chức năng, bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ; hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê.được bố chí tập trung, liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến thức liền kề; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện đáp ứng nhu cầu phát 8 triển hoạt động kinh doanh thương nhân và thoả mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng” (Bộ Thương mại 2004). Từ Quy chế Siêu thị, trung tâm thương mại của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương), có thể rút ra bảng tiêu thức phân hạng siêu thị, trung tâm thương mại như sau: Bảng 1.1 - Tiêu thức phân hạng siêu thị, trung tâm thương mại Hạng Loại hình Danh mục hàng Diện tích (m2 ) hóa (mặt hàng) Hạng I Siêu thị kinh doanh tổng hợp 5.000 Siêu thị chuyên doanh 1.000 Trung tâm thương mại 50.000 Hạng II Siêu thị kinh doanh tổng hợp 2.000 Siêu thị chuyên doanh 500 1.000 Trung tâm thương mại 30.000 Hạng III Siêu thị kinh doanh tổng hợp 500 4.000 Siêu thị chuyên doanh 250 500 Trung tâm thương mại 10. Trung tâm mua sắm (TTMS) Trung tâm mua sắm (Shopping centre/ Shopping mall) là cơ sở bán lẻ tập trung, trong Trung tâm mua sắm có bố trí nhiều loại hình cửa hàng bán lẻ hàng hóa, cửa hàng ăn uống và các cơ sở dịch vụ khác,.
trong đó có một hoặc một số siêu thị hoặc cửa hàng bách hóa,. mà với quy mô và vị trí của nó được chọn làm cửa hàng chính (hay cửa hàng hạt nhân) là tâm điểm hút khách hàng đến trung tâm mua sắm. 9 Trung tâm mua sắm không chỉ đơn thuần là nơi mua hàng mà còn là nơi đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, thể thao,. của người tiêu dùng.
Vì vậy, trong Trung tâm mua sắm còn bố trí các cơ sở, thiết bị để phục vụ những nhu cầu này. Khái niệm Trung tâm mua sắm (shopping centre/ shopping mall) ở Việt Nam vẫn thường lẫn lộn với khái niệm Trung tâm thương mại (Trade centre). Vào cuối thập niên 90 bắt đầu xuất hiện những trung tâm mua sắm đầu tiên tại Việt Nam như Diamond Plaza với diện tích hơn 15,500 m2, vài năm sau đó xuất hiện Parkson, Garden và giờ đây là AEON, Royal, TimeCity, Lotte,. Tốc độ phát triển về quy mô và số lượng các trung tâm mua sắm ở Việt Nam rất mạnh mẽ trong vài năm gần đây, tuy nhiên, chiếu theo chuẩn quốc tế (diện tích phải lớn hơn 200.000 m2) thì trung tâm mua sắm ở Việt Nam đại đa số ở dạng vừa, nhỏ thậm chí là siêu nhỏ.
Trung tâm mua sắm phát triển theo quy hoạch và được xây dựng, vận doanh một cách có kế hoạch bởi nhà quản lý- khai thác TTMS được chỉ định rất rõ ràng. Cửa hàng tiện lợi Cửa hàng tiện lợi (Convenience store) là loại hình cửa hàng cung cấp sự tiện lợi cho người tiêu dùng; quy mô cửa hàng nhỏ; hàng hóa, dịch vụ kinh doanh chủ yếu là những thứ gần gũi, thiết yếu nhất với cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của con người; thời gian mở cửa trong ngày dài,. Với nhịp sống nhanh như hiện nay, người tiêu dùng thường có xu hướng chọn những cửa hàng tiện lợi để mua sắm nhanh các đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, hay thậm chí cả việc ăn uống. Trong những năm gần đây tại Hà Nội xuất hiện một số cửa hàng tiện lợi của những doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài.
Có thể điểm qua các thương hiệu nổi bật trong mô hình này tại Hà Nội như B’s mart (Thái Lan), Circle K (Mỹ), Ministop (Nhật Bản), Shop&Go (Singapore),. Mặc dù phải trả phí cao hơn so với việc mua bán ở chợ hoặc siêu thị, nhưng người tiêu dùng vẫn chấp nhận vì hầu hết các cửa hàng tiện lợi ngày nay đều đảm bảo chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, dịch vụ khách hàng tốt, cơ sở vật chất tiện nghi và quan trọng hơn cả đó là việc mở cửa 24/24 giờ. Tại Hà Nội các nhà bán lẻ nước ngoài thường lập cơ sở bán lẻ như ST, 10 TTTM, TTMS. Đặc điểm của cơ sở bán lẻ Có hai mô hình về cơ sở bán lẻ, bao gồm cơ sở bán lẻ truyền thống và cơ sở bán lẻ hiện đại.
Hai mô hình cơ sở bán lẻ này có những đặc điểm như sau: Cơ sở bán lẻ truyền thống: có đặc điểm chung là khách hàng không hoàn toàn chủ động trong việc tìm kiếm sản phẩm cần mua, mà phải tìm kiếm sản phẩm thông qua gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với người bán. Quy mô của các cơ sở bán lẻ truyền thống thường có quy mô nhỏ, manh mún, tự phát, chủ yếu là thuộc sở hữu của hộ gia đình.