CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1. Tổng quan về hộ kinh doanh cá thể: 1. Hộ kinh doanh: Hộ KDCT được bắt nguồn từ hộ gia đình có tham gia hoạt động kinh tế, cùng sở hữu chung về tài sản, tư liệu sản xuất, cùng tham gia các hoạt động kinh tế chung và cùng thụ hưởng thành quả trong lao động sản xuất chung của họ. Đối với nền kinh tế Việt Nam, hộ KDCT là một bộ phận cấu thành của kinh tế tư nhân đã được nhà nước xác định thông qua Văn kiện Đại hội Đảng và Hiến pháp.
Vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng quan trọng đối với sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế và khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tại Đại hội VI (1986), Đảng ta đã thực hiện đường lối đổi mới trên lĩnh vực kinh tế, kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế cá thể được thừa nhận. Đến Đại hội VII, Đảng ta đã khẳng định: Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm. Đồng thời xác định kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập.
Trãi qua nhiều kỳ Đại hội, đến Đại hội X, Đảng ta nêu rõ: Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu 9 Luan van và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài… Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Có thể thấy, kinh tế cá thể được thừa nhận trong thành phần kinh tế tư nhân. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, trên cơ sở tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Như vậy, hộ KDCT được xác định là đơn vị kinh tế độc lập trong kinh tế tư nhân, có vị trí, vai trò trong nền kinh tế nước ta.
Theo Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì Hộ KDCT được hiểu như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Đặc điểm của hộ KDCT: Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ. + Đối với hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, cá nhân đó được toàn quyền quyết định về mọi hoạt động kinh doanh của hộ. 10 Luan van + Đối với hộ kinh doanh do một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, mọi hoạt động kinh doanh của hộ do các thành viên trong nhóm hoặc hộ gia đình quyết định từ phương thức, quy mô vốn, ngành nghề kinh doanh,.
Nhóm người hoặc hộ gia đình cử một người làm đại diện cho nhóm hoặc hộ để tham gia giao dịch với bên ngoài nhằm thực hiện mục đích kinh doanh của mình. + Hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân và hộ gia đình mình là chủ yếu. Quy mô nhỏ lẻ, điều kiện áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến còn hạn chế. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hộ KDCT phát triển khá nhanh, rộng khắp trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành nghề như sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ.
+ Tư liệu sản xuất của hộ KDCT thuộc sở hữu cá nhân của người chủ kinh doanh, người chủ kinh doanh có quyền tự quyết định về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình từ quá trình sản xuất kinh doanh đến việc phân phối, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ do mình tạo ra. Các hoạt động này đều mang tính tự chủ, tự tìm kiếm nguồn lực, nguồn vốn, người lao động, rất nhạy bén trong kinh doanh, đồng thời cũng dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường và nền kinh tế. + Hộ KDCT có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc trong nền kinh tế. Họ có kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và những bí quyết sản xuất truyền thống (gia truyền) được tích lũy, bổ sung từ nhiều thế hệ nhằm phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu.
[30] Tuy vậy, hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không có con dấu riêng, không được mở chi nhánh, văn phòng đại diện, không được thực hiện các quyền mà doanh nghiệp đang có hay áp dụng 11 Luan van Luật Phá sản khi hoạt động kinh doanh thua lỗ và chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh của mình. Hay nói cách khác, khi có phát sinh khoản nợ, cá nhân hoặc các thành viên trong gia đình phải chịu trách nhiệm trả hết nợ, không phụ thuộc vào số tài sản kinh doanh hay những tài sản khác mà họ đang có; cũng không phụ thuộc vào việc họ đang thực hiện hay đã chấm dứt thực hiện hoạt động kinh doanh. Vai trò của hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế: Trước đổi mới, nền kinh tế nước ta không có thành phần kinh tế tư nhân, hàng hóa được nhà nước phân phối, hạn chế tối đa việc mua bán hoặc vận chuyển tự do hàng hóa giữa các địa phương trong nước với nhau. Nền kinh tế thời kỳ này được gọi là nền kinh tế “tập trung quan liêu bao cấp”.
Đến tháng 6/1986, Đảng ta xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, tạo điều kiện để nước ta tiến hành đổi mới và tiến lên phát triển nền kinh tế thị trường. Sau khi tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986), nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với việc xác định nền kinh tế có nhiều thành phần, trong đó kinh tế hộ gia đình được khuyến khích phát triển, nhưng không phải là một nền kinh tế độc lập. Đến Đại hội X, kinh tế cá thể đã được thừa nhận trong thành phần kinh tế tư nhân. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế tư nhân đã góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội cho sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong thành phần kinh tế tư nhân, vai trò của hộ KDCT góp phần rất quan trọng thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển lớn mạnh và hộ KDCT luôn phát triển không ngừng và 12 Luan van luôn hoạt động trong tình trạng cung cấp những sản phẩm, dịch vụ trực tiếp đến với người tiêu dùng. + Hộ KDCT có tiềm năng lớn về đóng góp kinh tế, đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, có khả năng giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn dân cư chưa có việc làm hoặc muốn làm thêm lúc nhàn rỗi, có tính linh hoạt trong hoạt động, sức sống mạnh mẽ trong các điều kiện của nền kinh tế. + Trong điều kiện kinh tế thị trường, hộ KDCT có một vai trò hết sức to lớn đó là tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, đồng thời đóng vai trò làm vệ tinh cho các doanh nghiệp của nền kinh tế trong quá trình phân phối, luân chuyển hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra, hộ kinh doanh còn là đơn vị nắm bắt đầu tiên về tình hình nhu cầu của người tiêu dùng để thực hiện việc đáp ứng nhu cầu đó trong tương lai gần nhất có thể.
+ Thông qua các hộ KDCT có thể huy động được nguồn vốn lớn còn đang ở dạng tiềm năng trong nhân dân cho nền kinh tế phát triển. Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, tình trạng thất nghiệp đang ngày càng gia tăng thì chính việc thu hút một số lượng lao động đáng kể của hộ KDCT đã góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho xã hội đồng thời tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống cho người lao động, qua đó góp phần giữ vững an ninh trật tự - an toàn xã hội. Những hạn chế của hộ KDCT: Mặc dù có vai trò hết sức quan trọng song thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có một số mặt hạn chế đó là: + Khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật: việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất rất hạn chế (chỉ có một bộ phận nhỏ, năng động có áp dụng nhiều cải tiến đổi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh). Sự năng động mang tính chất tự phát, luôn tìm những kẻ hở của pháp luật để kinh doanh trái phép, gây khó khăn cho công tác quản lý.
13 Luan van + Khả năng xung đột lợi ích: giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội luôn xảy ra. Vì hoạt động kinh doanh luôn coi lợi nhuận là yếu tố cốt lõi, mà lợi ích đó chủ yếu là lợi ích cá nhân, của hộ kinh doanh chứ không phải là lợi ích của xã hội.