PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề án Trong nền kinh tế Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại, hộ kinh doanh là một trong những chủ thể kinh doanh đông đảo nhất và được nhà nước thừa nhận bởi các quy định pháp luật. Dưới mỗi thời kỳ, mỗi góc độ hộ kinh doanh được đề cập bằng những cách gọi khác nhau như là hộ cá thể, hộ kinh doanh cá thể… Tuy nhiên, về mặt bản chất vẫn không thay đổi. Các hộ kinh doanh có mặt ở hầu hết các vùng, miền, địa phương đã có thể tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ, tận dụng triệt để các nguồn lực xã hội, có nhiều thuận lợi trong việc khai thác tiềm năng phong phú từ nhân dân.
Hộ kinh doanh cũng sử dụng nguồn tài chính của dân cư trong vùng, nguyên liệu trong vùng để hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh mang tính chất nghề nghiệp thường xuyên và thu nhập chính đáng của họ phát sinh từ hoạt động kinh doanh. Hộ kinh doanh có hình thức, quy mô nhỏ lẻ nhưng có phạm vi phân bố rộng khắp, có thể hoạt động tại các địa bàn, khu vực vùng sâu vùng xa nơi điều kiện kinh tế, xã hội còn khó khăn và ngành nghề của hộ kinh doanh đôi khi là các lĩnh vực ngành nghề, chế biến và dịch vụ nhỏ, thô sơ,… Các hộ kinh doanh được xem là đơn vị phân phối sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp đến người dân. Nhờ vậy mà hộ kinh doanh có lợi thế về tính linh hoạt, dễ dàng thay đổi mặt hàng hay chuyển hướng kinh doanh và cả địa điểm để phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh khi cần thiết.
Những năm gần đây, các tuyến đường giao thông huyết mạch của huyện Tân Lạc được đầu tư xây dựng, cải tạo đã góp phần thúc đẩy việc giao thương, trao đổi hàng hóa với các huyện lân cận. Phát huy lợi thế, huyện Tân Lạc đã và đang tập trung huy động nguồn lực đầu tư, nâng cấp, phát triển hạ tầng thương mại; tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, thủ tục hành chính để doanh nghiệp đầu tư tham gia các hoạt động kinh doanh; khuyến khích hộ có nhà mặt đường quốc lộ 6, quốc lộ 12B buôn bán, kinh doanh. Nhờ vậy, ngành thương mại, dịch vụ của huyện có nhiều chuyển biến tích cực, hàng hóa phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của người dân. Hiện, trên địa bàn huyện có 310 hộ kinh doanh cá thể, 2 siêu thị mini và 8 cửa hàng tiện lợi, kinh doanh hàng tạp hóa, thực phẩm, sửa chữa xe máy, đồ điện dân 2 dụng… Các cơ sở kinh doanh bắt đầu sử dụng phương thức thanh toán điện tử, bán hàng trực tuyến.
Hoạt động TMDV góp phần nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân địa phương. Doanh thu trung bình của 1 hộ kinh doanh cá thể đạt khoảng 100 triệu đồng/năm. Thu nhập bình quân người lao động trong các siêu thị, cửa hàng tiện lợi đạt từ 4 - 5 triệu đồng/tháng. Sự xuất hiện của các siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng kinh doanh đồ điện tử… không chỉ đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân mà còn làm cho diện mạo khu vực đô thị, nông thôn huyện thêm sầm uất và đẹp hơn.
Theo quy định, hộ kinh doanh, hộ khoán, cửa hàng kinh doanh, cá nhân kinh doanh đều phải nộp lệ phí môn bài hằng năm còn hộ, cá nhân kinh doanh áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo tỷ lệ % trực tiếp. Trong đó, hộ kinh doanh phân phối, cung cấp hàng hoá là 1%; dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu là 5%; sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu là 3%; hoạt động kinh doanh khác là 2%. Thời hạn nộp thuế theo quý (ngày cuối cùng của tháng đầu quý tiếp theo liền kề quý phát sinh nghĩa vụ thuế). Ngoài ra, trong trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hằng năm từ 100 triệu đồng trở xuống thì thuộc trường hợp không phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân.
Tuy nhiên, công tác quản lý thu thuế cũng như kết quả thu từ lĩnh vực này còn nhiều hạn chế. Số thu thuế chưa tương xứng với thực tế hoạt động kinh doanh, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Đối với hộ kinh doanh, do cơ chế chính sách là tự kê khai doanh thu, kinh doanh manh mún không có sổ sách, chứng từ, hóa đơn theo pháp luật, ý thức chấp hành còn hạn chế, dẫn đến khó khăn trong việc quản lý hộ kinh doanh, cũng như điều tra khảo sát doanh số của hộ kinh doanh chưa thực sự sát với thực tế. Những người nộp thuế không có địa chỉ kinh doanh cụ thể, rất khó lập bộ quản lý, ví dụ như các hộ kinh doanh vận tải, thường vắng mặt tại địa chỉ cư trú, không hợp tác kê khai, không kê khai sát doanh thu thực tế… Xuất phát từ thực trạng nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình” làm đề án tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu của đề án 2. Mục tiêu tổng quát Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, đề án đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác này tại địa phương trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh; - Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc; - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc; - Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc trong thời gian tới. Đối tượng và phạm vi của đề án 3.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Phạm vi nghiên cứu của đề tài - Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc; các yếu tố ảnh hưởng đến công tác lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc; các giải pháp hoàn thiện lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc trong thời gian tới. - Phạm vi về không gian: Đề án được thực hiện trên phạm vi huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. - Phạm vi về thời gian: Đề án nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc trong giai đoạn 2021-2023, số liệu khảo sát tháng 06/2024.
Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2025-2030. Ý nghĩa của đề án - Về mặt lý luận: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh. - Về mặt thực tiễn: Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc; Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Tân Lạc trong giai đoạn 2025-2030. 5 PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1.
Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh 1. Hộ kinh doanh 1. Khái niệm hộ kinh doanh Ở Việt Nam, hộ kinh doanh được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như: Tổ chức tiểu sản xuất hàng hóa, hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ, hộ tiểu thủ công nghiệp… các tên gọi này cũng thay đổi theo từng thời kỳ và quan niệm hộ kinh doanh tồn tại như một hình thức kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ như hộ gia đình cũng dần bị thay đổi. Cụ thể: Theo quy định của Nghị định số 27-HĐBT ngày 09/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành bản quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải (Nghị định số 27- HĐBT), các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh được xem là các đơn vị kinh tế tự quản có tư liệu sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọi vấn đề sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu nhập, lỗ lãi.
Các đơn vị kinh tế này được tổ chức theo hình thức: Hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp, xí nghiệp tư doanh. Đặc biệt, sau khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 được ban hành thì “hộ cá thể” được đổi tên thành “hộ kinh doanh cá thể” và được ghi nhận tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Theo đó, hộ kinh doanh cá thể được định nghĩa: “Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Đến khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời thì một lần nữa sửa đổi tên “hộ kinh doanh cá thể” thành “hộ kinh doanh” và được định nghĩa tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh, sau đó được thay thế bằng Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp (Nghị định số 43/2010/Đ-CP).
Theo đó: “Hộ kinh doanh do 6 một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Như vậy, so với quy định trước đây thì Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đã thu hẹp phạm vi hộ kinh doanh, hộ kinh doanh nếu là cá nhân làm chủ thì phải là công dân Việt Nam. Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời thay cho Luật Doanh nghiệp năm 2005 mặc dù vẫn dùng thuật ngữ “hộ kinh doanh” nhưng tại Nghị định số 78/2015/NĐ- CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp (Nghị định số 78/2015/NĐ-CP) lại có một khái niệm khác hơn trước.