phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về quản lý hộ kinh doanh. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý hộ kinh doanh từ thực tiễn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý hộ kinh doanh từ thực tiễn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HỘ KINH DOANH 1.
Những vấn đề chung về hộ kinh doanh 1. Khái niệm về hộ kinh doanh - Khái niệm kinh doanh theo Từ điển tiếng Việt thuật ngữ kinh doanh là tổ chức sản xuất, buôn bán sao cho sinh lời; còn với tiếng Anh thì thuật ngữ kinh doanh đƣợc viết là “business” và bao hàm các nghĩa nhƣ sau:“nghề nghiệp, công việc, mối quan tâm hoặc trách nhiệm của ai; công việc quan trọng, việc phải làm, cơ sở thương mại”. Theo Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Nhƣ vậy, kinh doanh có nghĩa rất rộng, bao hàm tất cả các hoạt động có mục đích sinh lợi.
Mặt khác, không phải tất cả các hoạt động đầu tƣ, sản xuất, mua, bán đều là kinh doanh, mà chỉ những hoạt động đầu tƣ, sản xuất, mua, bán nào có mục đích sinh lợi mới đƣợc coi là kinh doanh. Có thể thấy rằng kinh doanh là hoạt động ra đời sớm trong lịch sử xã hội loài ngƣời, trên cơ sở phân công lao động xã hội, nó đã tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau, theo đó sự phát triển của kinh doanh gắn liền với nền sản xuất hàng hóa. Khi có sự phân công lao động lần thứ ba trong xã hội, hoạt động kinh doanh, buôn bán đƣợc hình thành, trong xã hội xuất hiện tầng lớp chuyên buôn bán các hàng hóa để kiếm lời đó là các thƣơng nhân, lúc đó hành vi kinh doanh đã đƣợc hình thành. Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của chính phủ về đăng ký kinh doanh (viết tắt là Nghị định số 78/2015/NĐ-CP).
Theo Điều 66 Nghị định này quy định: 9 “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Khái niệm về HKD chính thức đƣợc sử dụng từ năm 2006 đến nay thông qua quy định tại các Nghị định số 88/2006/NĐ-CP, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, theo đó các tiêu chí quy định về HKD ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn điều này giúp cho việc tham gia đăng ký kinh doanh của ngƣời dân ngày càng thuận lợi. Cụ thể: Một là: tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP quy định cá nhân đăng ký kinh doanh là công dân Việt Nam nhƣng không quy định về độ tuổi tham gia kinh doanh, quy định thêm một nhóm ngƣời cũng có thể tham gia đăng kí thành lập HKD mà không quy định về nhóm ngƣời này có cần phải là công dân Việt Nam hay không; đồng thời không quy định về năng lực hành vi dân sự khi tham gia kinh doanh. Hai là: tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định cá nhân tham gia đăng ký kinh doanh hoặc nhóm cá nhân tham gia đăng ký kinh doanh phải đảm bảo 03 tiêu chí nhƣ sau: là công dân Việt Nam; đủ 18 tuổi trở lên; có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mới đủ điều kiện để đăng ký HKD.
Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Theo tinh thần Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 15 tháng 7 năm 1988 của Đảng về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nêu rõ [3]: 10 “Kinh tế tư nhân là đơn vị kinh tế do những người có vốn, có tài sản lập ra, sản xuất kinh doanh theo pháp luật; kinh tế tư nhân bao gồm các hình thức: Hộ cá thể; hộ tiểu chủ; xí nghiệp tư bản sản xuất công nghiệp”; Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng khảng định: “Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế cá thể tiểu chủ được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển” [32]. Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước.
Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa”. Tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận:“Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” [42]. Từ quan điểm phát triển kinh tế của Đảng, quy định của Hiến pháp tác và quy định tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ tác giả đề xuất khái niệm về HKD nhƣ sau: “Hộ kinh doanh là một cơ sở kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Đặc điểm của hộ kinh doanh Hiện nay theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, trong đó có loại hình doanh nghiệp do Nhà nƣớc làm chủ sở hữu, loại hình doanh nghiệp do tƣ nhân trong nƣớc làm chủ sở hữu và loại 11 hình doanh nghiệp vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
HKD không có trong hệ thống các loại hình doanh nghiệp Việt Nam, không đƣợc quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 mà chỉ đƣợc quy định tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP. Nhƣ đã trình bày ở phần khái niệm thì HKD đƣợc xác định là một chủ thể thuộc thành phần kinh tế tƣ nhân đƣợc đăng kí kinh doanh và tham gia vào hoạt động kinh doanh nhƣ doanh nghiệp nhƣng không phải là doanh nghiệp. Theo khái niệm về HKD thì chủ thể kinh tế này đƣợc cấu thành bởi các yếu tố: Do một cá nhân, một nhóm ngƣời là công dân Việt Nam hoặc một hộ gia đình làm chủ; chỉ đƣợc kinh doanh tại một địa điểm; sử dụng không quá mƣời lao động; không có con dấu; chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Do đó, HKD có những đặc điểm sau: Thứ nhất, chủ cơ sở là một cá nhân duy nhất, một nhóm người hoặc một hộ gia đình.
HKD không phải là pháp nhân, có thể do một cá nhân duy nhất, một nhóm ngƣời hoặc một hộ gia đình làm chủ. Vốn kinh doanh ban đầu của HKD là vốn của một cá nhân duy nhất, một nhóm ngƣời hoặc vốn chung của một hộ gia đình. Đối với trƣờng hợp HKD do một cá nhân duy nhất làm chủ sở hữu thì cá nhân này đồng thời là ngƣời quyết định mọi vấn đề liên quan đến HKD, quyết định việc ĐKKD, thực hiện SXKD hoặc chấm dứt hoạt động của hộ. Đƣơng nhiên chủ HKD là đối tƣợng duy nhất có quyền hƣởng mọi lợi nhuận do công việc kinh doanh của hộ tạo ra, là ngƣời duy nhất chịu mọi nghĩa vụ tài chính với Nhà nƣớc và cũng là ngƣời duy nhất chịu mọi rủi ro đối với hoạt động của hộ.
Trong trƣờng hợp HKD do một nhóm cá nhân hoặc một hộ gia đình làm chủ thì HKD này phải cử ra một đại diện. Ngƣời đại diện này sẽ thay mặt hộ thực hiện các quyền, nghĩa vụ của cả hộ. Tuy nhiên, ngƣời đại diện không chịu trách nhiệm thay cho những thành viên khác trong gia đình. Lợi nhuận cũng nhƣ rủi ro sẽ chia cho các thành viên trong hộ gia đình theo thỏa thuận của tất cả các thành viên (có thể dựa vào số vốn của mỗi thành viên đóng góp trong hộ hoặc công sức của từng thành viên cấu thành nên lợi nhuận của hộ).
12 Thứ hai, quy mô kinh doanh nhỏ. HKD thƣờng kinh doanh với quy mô nhỏ hẹp đƣợc sử dụng tối đa không quá mƣời lao động, đối với các loại hình doanh nghiệp, pháp luật không hề đƣa ra một hạn chế nào trong việc các doanh nghiệp sử dụng bao nhiêu lao động, việc sử dụng lao động làm thuê có diễn ra thƣờng xuyên hay không, cũng nhƣ doanh nghiệp có bao nhiêu cơ sở SXKD. Không giống nhƣ vậy đối với HKD pháp luật đƣa ra một số nhận biết đối với loại hình kinh doanh này có những đặc điểm làm cho HKD dƣờng nhƣ có quy mô nhỏ hẹp. Những dấu hiệu mà pháp luật lựa chọn là địa điểm kinh doanh; số lƣợng lao động mà HKD sử dụng; không đƣợc đăng ký con dấu riêng, không đƣợc mở chi nhánh, văn phòng đại diện, không đƣợc thực hiện các quyền mà doanh nghiệp đang có nhƣ hoạt động xuất nhập khẩu hay áp dụng Luật Phá sản khi kinh doanh thua lỗ.
Mặc dù đƣợc phân biệt với các loại hình doanh nghiệp bởi quy mô kinh doanh nhỏ hẹp nhƣng HKD không phải là đối tƣợng có quy mô kinh doanh nhỏ nhất. Loại hình kinh doanh này vẫn đƣợc coi là có quy mô kinh doanh lớn hơn và ổn định hơn so với một số hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp, làm muối và những ngƣời bán hàng rong, quà vặt, làm dịch vụ có thu nhập thấp. Những đối tƣợng trên đây không phải ĐKKD mặc dù vẫn thực hiện hành vi mua bán hàng hóa kiếm lời. Dấu hiệu để phân biệt đối tƣợng này với HKD đó là mức thu nhập thấp.