Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1. Những vấn đề chung về hộ kinh doanh 1. Khái niệm hộ kinh doanh HKD là một loại hình kinh doanh đặc biệt có tính đặc thù của hệ thống tổ chức kinh doanh ở Việt Nam. Loại hình này có một số yếu tố thuộc về lịch sử của Việt Nam và một số yếu tố do Nhà nước tạo nên.
Vì vậy, khó có thể đưa ra một định nghĩa chính xác về bản chất của HKD là cá nhân kinh doanh, thương nhân đơn lẻ hay thương nhân thể nhân. Theo pháp luật Việt Nam quy định về đăng ký kinh doanh qua các giai đoạn thì HKD được khái quát như sau: - Nghị định số 27-HĐBT ngày 09 tháng 3 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành bản “Qui định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải”. Các đơn vị kinh tế này được tổ chức theo những hình thức: (1) hộ cá thể; (2) hộ tiểu công nghiệp; và (3) xí nghiệp tư doanh. Theo Điều 1 quy định: + “Hộ cá thể”: Tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc quyền sở hữu của người đứng tên đăng ký kinh doanh; Chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp; Những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, con hoặc những người thân khác có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của người đứng tên đăng ký kinh doanh; Thu nhập sau khi đóng thuế thuộc quyền sở hữu của chủ hộ.
Quy định này có thể hiểu đây chính là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thể nhân tiến hành hoạt động kinh doanh cho chính mình. Dấu ấn gia đình Việt Nam và dấu ấn quan niệm về các thành phần kinh tế trong cơ chế cũ vẫn còn cho đến ngày nay, người ta vẫn gọi cá nhân kinh doanh là HKD. 7 Luan van + “Hộ tiểu công nghiệp”: Là các công xưởng hay các cửa hàng; được thuê mướn lao động theo hợp đồng giữa chủ và người làm thuê; và chủ hộ có thể là người đóng vai trò chính về kỹ thuật sản xuất và tự điều hành sản xuất kinh doanh. Quy định này có thể hiểu bản chất của hộ tiểu công nghiệp cũng là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thể nhân, nhưng có sản nghiệp thương mại hay cơ sở kinh doanh.
- Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ định nghĩa: “HKD cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.27] - Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ định nghĩa: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.31] - Khoản 1 và Khoản 3 Điều 66 của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp định nghĩa: “1. Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập DN theo quy định”.53] 8 Luan van Như vậy khái niệm “hộ cá thể” và “hộ tiểu công nghiệp” theo Nghị định số 27-HĐBT ngày 09 tháng 3 năm 1988 đã có nhiều thay đổi qua ba Nghị định vừa dẫn. Bản chất cá nhân kinh doanh và dấu ấn gia đình đã ngày càng mờ đi mặc dù thuật ngữ “hộ gia đình” vẫn được sử dụng trong các định nghĩa.
HKD không hoàn toàn là cá nhân kinh doanh mà đôi khi có sự hùn vốn của các cá nhân khác. Cho nên quan niệm HKD hay HKD cá thể là cá nhân kinh doanh hay thương nhân đơn lẻ là không hoàn toàn đúng. - Theo khoản 4 Điều 170 Luật Doanh nghiệp năm 2005 cho đến khoản 2 Điều 212 Luật Doanh nghiệp năm 2014 vẫn giữ nguyên nội dung quy định: “Hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 (mười) lao động trở lên phải đăng ký thành lập DN hoạt động theo quy định của Luật này. Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ.
Điều này cho thấy, HKD có bản chất của DN nhưng kinh doanh với quy mô nhỏ, giống với loại hình DN nhỏ và DN siêu nhỏ là một loại hình của DN nhỏ, sử dụng dưới 10 lao động. Vậy có thể xem thuật ngữ HKD là DN theo pháp luật Việt Nam quy định vì nó cũng là một thực thể hay một hình thức kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh. Xét từ nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của HKD, có thể thấy HKD có bản chất là thương nhân. Nếu HKD do một cá nhân làm chủ thì có thể coi đó là thương nhân thể nhân.
Mặt khác, HKD do một hộ gia đình hoặc một nhóm người làm chủ thì khó có thể coi đó là thương nhân thể nhân hay thương nhân pháp nhân mặc dù nó cũng được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ pháp lý. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay chưa xác định rõ “tư cách pháp lý” của HKD cá thể như DN nên ảnh hưởng đến địa vị pháp lý và làm hạn chế thẩm quyền của loại chủ thể này trong một số lĩnh vực so với DN (như lựa chọn ngành, nghề kinh doanh; giao kết hợp đồng kinh tế, tham gia quan hệ đầu tư trực tiếp với nước ngoài. 9 Luan van Từ những vấn đề pháp lý phân tích nói trên, tác giả tạm thời đưa ra khái niệm về HKD như sau: “Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình là người Việt Nam làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của hộ kinh doanh. Hộ kinh doanh có quy mô hoạt động nhỏ, chỉ sử dụng dưới mười lao động, phải thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ.
Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân và không được phép kinh doanh xuất, nhập khẩu. Phân loại hộ kinh doanh Theo pháp luật Việt Nam hiện nay có thể phân loại HKD thành ba loại căn cứ vào chủ thể tạo lập ra nó: (1) HKD do một cá nhân làm chủ; (2) HKD do hộ gia đình làm chủ; (3) HKD do một nhóm người làm chủ. Cá nhân kinh doanh ở đây được hiểu là từng người cụ thể, là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được quyền đăng ký thành lập HKD. Trong hoạt động kinh doanh, cá nhân này phải nhân danh mình và tự chịu trách nhiệm về các hành vi thương mại của mình.
“Hộ gia đình” không phải là cá nhân và cũng không phải là pháp nhân, mà là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam từ truyền thống đặc trưng của dân tộc Việt Nam, bởi vì phần lớn các quốc gia trên thế giới không thừa nhận hộ gia đình là một thực thể được tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh giống như một thương nhân hoặc một công ty. Việc quy định “hộ gia đình” được kinh doanh dưới hình thức HKD xuất phát từ Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “hộ gia đình” là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, cụ thể theo Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công 10 Luan van sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất, nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”.27] Theo pháp luật hiện hành, khái niệm về “hộ gia đình” chưa xác định rõ các điều kiện hay các tiêu chí xác lập một hộ gia đình. Xuất phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam cũng như căn cứ vào quy định của pháp luật, thông thường các thành viên trong hộ gia đình phải có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng; cùng cư trú ở một nơi, có cùng hoạt động kinh tế chung trên một sản nghiệp chung. Việc xác định tư cách thành viên hộ gia đình là rất quan trọng.
Bởi lẽ, từ đó xác định được các quyền sở hữu khối tài sản chung và nghĩa vụ liên đới phát sinh nếu có rủi ro trong giao dịch. Tuy nhiên, từ Bộ luật Dân sự năm 2005 đến Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chưa có nội dung quy định rõ ràng về vấn đề xác định tư cách thành viên hộ gia đình. Và trên thực tế, số lượng các thành viên trong hộ gia đình có thể thay đổi và hầu như chỉ thỏa thuận bằng miệng với nhau dựa vào tình cảm gia đình, không có cơ sở pháp lý rõ ràng nên việc xác định tập hợp các thành viên của hộ gia đình không dễ dàng, đặc biệt là khi xảy ra tranh chấp sẽ rất khó giải quyết. Ngoài ra, điều đặc biệt ở loại hình kinh doanh này là có thể đăng ký kinh doanh dưới hình thức HKD hoặc không cần đăng ký trong trường hợp tại khoản 2 Điều 66 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ quy định: “Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương”.53] 11 Luan van Trước đây, Hội đồng Bộ trưởng đã từng ban hành quy định một nhóm người được đăng ký kinh doanh dưới hình thức HKD theo Nghị định số 66- HĐBT ngày 02 tháng 3 năm 1992.