Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư công Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý đầu tư công tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011 – 2014. Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý đầu tư công tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn tới. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƢ CÔNG 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu trước đây Liên quan đến vấn đề đầu tư công và vai trò của Nhà nước đối với đầu tư công, đã có khá nhiều cấp, ngành và các đơn vị nghiên cứu cũng như các phương tiện thông tin đại chúng quan tâm, phân tích đánh giá. Cụ thể, đó là: Sách “Quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của GS.TSKH Lương Xuân Quỳ, nhà xuất bản Lý luận chính trị năm 2006. Cuốn sách đưa ra cái nhìn tổng thể về vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung; Sách “Quản lý tài chính công” của PGS.TS Trần Đình Ty, nhà xuất bản lao động năm 2003, cung cấp một cách có hệ thống cơ sở lý luận về tài chính công và quản lý tài chính công; Sách “Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp của tác giả Dương Bình Minh, nhà xuất bản Tài chính năm 2005; Báo cáo “Việt Nam quản lý chi tiêu công để tăng trưởng và giảm nghèo” của Ngân hàng thế giới năm 2005.
Ngoài ra cũng có thể kể đến một số nghiên cứu khác như: Thông tin chuyên đề “Nâng cao hiệu quả đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước” của Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) - tập trung phân tích thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước và những sai sót trong công tác đầu tư bằng nguồn vốn của Nhà nước; 5 z Luận văn thạc sỹ “Hiệu quả quản lý đầu tư công tại thành phố Hồ Chí Minh: Vấn đề và giải đáp” của tác giả Nguyễn Hoàng Anh - Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn tập trung phân tích việc quản lý đầu tư công tại thành phố Hồ Chí Minh- những điểm được và chưa được trong thời gian qua; Bài báo “Chống lạm phát, nâng cao hiệu quả đầu tư công” của ThS. Nguyễn Thị Mỹ Dung, Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh – chủ yếu phân tích đầu tư công tại các Doanh nghiệp nhà nước trên khía cạnh chống lạm phát. Phân tích chưa sâu và chưa nêu lên được những cái được của công tác đầu tư công; Bài báo “Một số vấn đề về đầu tư công” của TSKH Nguyễn Quang Thái - chủ yếu phân tích về những yếu kém và hạn chế của công tác đầu tư công tại các doanh nghiệp Nhà nước; Luận văn tiến sỹ “Hoàn thiện phương pháp đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư công cộng ở Việt Nam” của tác giả Phan Tất Thứ - Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội năm 2005: Đưa ra một số phươnz pháp đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư công cộng ở Việt Nam.
Nhận xét chung về các nghiên cứu trước đây Có thể thấy, hầu hết các nghiên cứu đã có đều chỉ nghiên cứu đầu tư công như một bộ phận trong tổng thể các hoạt động của Chính phủ hoặc chỉ đề cập đến vấn đề đầu tư công tại một địa phương hoặc là chỉ phân tích ở một khía cạnh của công tác quản lý đầu tư như vấn đề chống lạm phát hoặc một đối tượng của quản lý đầu tư công. Nhìn chung, chưa có một nghiên cứu nào mang tính bao quát, nêu được cơ sở lý luận, tình hình đầu tư công nói chung và công tác quản lý đầu tư công nói riêng ở Việt Nam đã được ở điểm nào, chưa được ở điểm nào, nguyên nhân, bản chất của công tác này, chưa có những tiếp cận theo hướng kinh tế chính trị. Cơ sở lý luận về quản lý đầu tƣ công 1. Khái niệm về đầu tư công Khái niệm đầu tư công được xây dựng theo các tính chất của quan hệ sở hữu vốn, khu vực đầu tư, hiệu quả đầu tư và đối tượng đầu tư.
Cách thứ nhất: Theo đối tượng sở hữu vốn, hoạt động đầu tư sử dụng vốn thuộc sở hữu nhà nước được gọi là đầu tư công, thuộc sở hữu tư nhân gọi là đầu tư tư nhân. Đây cũng chính là cách tiếp cận đầu tư công của Luật đầu tư công (6/2014) thì “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”. [5] Như vậy, định nghĩa này tiếp cận đầu tư công theo góc độ chủ thể quản lý Nhà nước, nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm cùa nhà nước đối với hoạt động đầu tư công. Cách thứ hai: Theo khu vực đầu tư, nền kinh tế bao gồm hai khu vực là Công cộng và tư nhân.
Hoạt động đầu tư thuộc khu vực công cộng gọi là đầu tư công cộng, hoạt động đầu tư thuộc khu vực tư nhân gọi là đầu tư tư nhân. Cách thứ ba: Nhìn từ góc độ hiệu quả của đầu tư, kinh tế học vĩ mô cho rằng: đầu tư làm gia tăng tư bản xã hội gọi là đầu tư công cộng hay còn gọi là đầu tư công. Cách tiếp cận trên nhìn từ góc độ quy mô tác động, hiệu quả của đầu tư. Cách thứ tư: Xét theo đối tượng thụ hưởng đầu tư và đầu ra của đầu tư, các hoạt động sản xuất ra hàng hóa công cộng gọi là đầu tư công, các hoạt động sản xuất ra hàng hóa tư nhân gọi là đầu tư tư nhân.
Tiếp cận theo góc độ này, kinh tế công cộng cho rằng: đặc trưng chủ yếu của hàng hóa, dịch vụ công là hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội, cộng đồng, việc tiến hành hoạt động cung cấp hàng hóa ấy có thể do nhà nước trực tiếp 7 z đảm nhận, trao quyền cung cấp hàng hóa công cho các cá nhân hoặc Nhà nước tài trợ công cho khu vực tư để cung cấp hàng hóa công. Theo cách tiếp cận này, hoạt động đầu tư công là hoạt động đầu tư cung cấp hàng hóa công, có thể do chủ thể Nhà nước hoặc tư nhân đàm nhiệm dưới sự quản lý, hỗ trợ và định hướng của Nhà nước nhằm mục đích phục vụ lợi ích chung của xã hội, cộng đồng. Có thể thấy rằng, dù tiếp cận ở góc độ khác nhau thì đầu tư công đều hướng đến mục tiêu chung là đầu tư phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội, của cộng đồng. Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo, quản lý, điều tiết và giám sát các hoạt động đầu tư này.
Trong đề tài này, khái niệm đầu tư công được nhìn nhận theo phương thức thứ tư. Như vậy, đầu tư công có thể hiểu như sau: đầu tư công là những hoạt động đầu tư nhằm phục vụ nhu cầu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện. Các lý thuyết về đầu tư công Hệ thống lý thuyết về đầu tư công bao gồm: 8 z Quan điểm lý thuyết về đầu tư công Quan điểm của Quan điểm ủng Quan điểm về trường phái tân hộ sự can thiệp sự phát triển cân cổ điển của nhà nước đối hay không cân đối Thuyết tăng Thuyết tăng trưởng cân đối trưởng không cân đối Hình 1. Quan điểm lý thuyết về đầu tư công ( Nguồn: Tác giả tổng hợp) Theo đó, các quan điểm lý thuyết về đầu tư công bao gồm: 1.
Quan điểm của trường phái tân cổ điển Quan điểm của trường phái này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và lao động.mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này. Trường phái này khẳng định là một trong các ưu điểm kinh tế thị trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự động hay qua bàn tay vô hình của thị trường. Đầu tư là một hình thức phân bổ nguồn lực trong các hình thức đó - phân bố vốn trong nền kinh tế. Theo lý thuyết này, các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế trong quá trình tìm đến điểm tối đa hoá lợi nhuận sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt nhất cho chính mình, và như vậy nhà nước không cần can thiệp để tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý cho doanh nghiệp vì bản thân doanh nghiệp biết rõ hơn ai hết là cần 9 z phải làm gì để đạt lợi ích tốt nhất cho chính doanh nghiệp.
Cộng tất cả các đơn vị sản xuất này trong nền kinh tế sẽ hình thành một cơ cấu đầu tư của một nền kinh tế và theo lập luận trên, và cơ cấu đó là hợp lý. Vai trò của nhà nước trong trường hợp này chỉ dừng lại ở mức là cung cấp các hàng hoá công cộng cần thiết cho nền kinh tế như kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội mà nếu để thị trường tự vận động thì không thể đáp ứng được. Giả định của trường phái tân cổ điển là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Đây là thị trường mà người bán và người mua có khả năng kiếm soát giá vá họ có đầy đủ thông tin về thị trường không những trong hiện tại mà cả ở tương lai, 1.
Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước Quan điểm này cho rằng do sự không hoàn hảo của thị trường, nhất là các nước đang phát triển, nên sự tự thân vận động của thị trường sẽ không mang lại kết quả tối ưu. Thông tin không hoàn hảo có thể sẽ dẫn đến sản xuất và đầu tư quá mức. Trong trường hợp này, nhà nước phải là người tổ chức cung cấp thông tin tốt để thị trường hoạt động tốt hơn.