CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN 1. Vai trò giói trong gia đình, xã hội và sức khoẻ sinh sản 1. Một sổ khái niệm cơ bản: - Giới'. Chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam giới và nữ giới trong tất cả các mối quan hệ xã hội.
Chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ. - Vai trò giới'. Là những hoạt động khác nhau mà xã hội mong muốn phụ nữ và nam giới thực hiện. - Định kiến giới'.
Là sự nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam và nữ. - Phân biệt đối xử về giới'. Là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vục của đời sống xã hội và gia đình. - Bĩnh đẳng giới'.
Là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và hưởng thụ như nhau về thành quả của sự phát triển đó. - Chỉ số phát triển giới (GDI)'. Là số liệu tổng họp phản ánh thực trạng bình đắng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ. - Sức khoẻ sinh sản: Sức khoẻ sinh sản là tình trạng hoàn toàn khoẻ mạnh về thể chất, tinh thần, xã hội và không chỉ là không có bệnh hay không bị tàn tật về tất cả những gì liên quan tới hệ thống sinh sản, chức năng và quá trình sinh sản.
Vai trò giới trong gia đình Vai trò giới trong gia đình bao giờ cũng được đặt trong mối quan hệ tương tác giữa vai trò, trách nhiệm của nam giới và vai trò, trách nhiệm của người phụ nữ trong các mặt hoạt động kinh tế, chia sẻ công việc gia đình và đưa ra quyết định cho các hoạt động của gia đình. 6 - Vai trỏ và trách nhiệm của giới trong hoạt động kỉnh tế: Hoạt động kinh tế nhằm tạo ra của cải, vật chất hay thu nhập để nuôi sống gia đình có thể coi là hoạt động cơ bản và có ý nghĩa quan trọng đối với một gia đình. Vai trò và trách nhiệm của người chồng và người vợ trong việc phát triển kinh tế gia đình được thể hiện qua việc tham gia các hoạt động kinh tế từ sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đến các hoạt động buôn bán, dịch vụ tư nhân hay tập thể, làm thuê hay cán bộ công chức nhà nước. Nam giới là người có vai trò chính trong việc làm ra kinh tể cho gia đình là một mô hình truyền thống được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng [20], người phụ nữ thường có xu hướng tham gia các hoạt động trong phạm vi kinh tế hộ gia đình nhiều hơn như: sản xuất nông nghiệp, chăm nuôi và chế biến nông sản, còn nam giới lại hướng tới các lĩnh vực kinh tế bên ngoài gia đình như: làm dịch vụ, làm thuê và làm cán bộ công chức nhà nước [1].
- Vai trò và trách nhiệm của giới trong công việc chăm sóc gia đĩnh: Công việc chăm sóc gia đình bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau từ công việc nội trợ như nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, mua sắm các vật dụng gia đình đến việc chăm sóc con cái, chăm sóc người ốm, người già. Đây là những công việc "không tên", thường không được coi trọng do không đem lại thu nhập nhưng lại tiêu tốn không ít thời gian cũng như công sức của người thực hiện. Người đàn ông với vai trò là người chồng, người chủ gia đình thường được coi là phải chịu trách nhiệm "các công to việc lớn", "việc đại sự" còn người phụ nữ với vai trò là người vợ, người nội trợ trong gia đình sẽ phải chịu trách nhiệm đảm nhận các công việc nội trợ và chăm sóc gia đình. Việc cả hai vợ chồng chia sẻ gánh nặng công việc chăm sóc gia đình này là một tiêu chí hết sức có ý nghĩa trong vấn đề bình đẳng giới trong gia đình [20], [1].
- Vai trò và trách nhiệm của giới trong việc ra quyết định trong gia đĩnh: Việc ra quyết định liên quan đến mọi mặt của đời sống gia đình là một tiêu chí quan trọng đánh giá vai trò của người vợ và người chồng trong gia đình. Quyết định các hoạt động khác nhau của đời sống gia đình được chia thành các nhóm vấn đề sau: sở hữu/sử dụng tài sản cố định, các hoạt động kinh tế, các vấn đề liên quan đên con cái, chăm sóc sức khỏe và các vấn đề khác. Người chồng thường chiếm ưu 7 thế trong việc quyết định đứng tên sở hữu nhà và quyền sử dụng ruộng đất, quyết định đối với các hoạt động kinh tế, quyết định việc học tập, nghề nghiệp và hôn nhân của con cái [18], [1], [30]. Trong khi nam giới được coi là chủ về kinh tế thì phụ nữ được coi là có trách nhiệm quản lý kinh tế trong gia đình, họ có "đặc quyền" hơn người đàn ông trong quyết định chi tiêu hàng ngày trong gia đình, họ là người quyết định và có vai trò quan trọng nhất trong việc chăm lo sức khỏe cho gia đình [20], [1], [2], 1.
Vai trò giới trong xã hội: Trong hầu hết các xã hội thì nam giới chiếm phần lớn và thường là người đứng đầu trong hệ thống chính trị như Quốc hội, Chính phủ và các cấp uỷ Đảng. Nam giới thường đóng vai trò là người xây dựng chính sách, là nhà quản lý, điều hành và thủ lĩnh cộng đồng. Tỷ lệ phụ nữ tham gia trong hệ thống chính trị không cao và thường giữ vai trò là cấp phó [31]. Trong các hoạt động xã hội ở cộng đồng thì phụ nữ thường tham gia Hội phụ nữ, tham gia các hoạt động của làng xã như họp xóm, họp xã phổ biến về vấn đề sản xuất và sức khỏe [20], 1.
Vai trò giới trong sức khoẻ sình sản: Mối liên quan giữa giới với sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục đã được đưa ra bàn luận tại Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cairo năm 1994 và Hội nghị Phụ nữ thế giới lần thứ tư tại Bắc Kinh năm 1995. Tại hai hội nghị này, Chính phủ các nước đã thống nhất thực hiện các chính sách và chương trình nhằm nâng cao vị thế người phụ nữ và đẩy mạnh bình đẳng giới. Chương trình hành động của Hội nghị Cairo đã nêu rõ: “Nam giới đóng vai trò chủ chốt trong việc đem lại bình đắng giới, vì trong đa sổ các xã hội thì quyền lực luôn luôn thuộc về nam giới trên mọi khía cạnh của cuộc sống, từ việc quyết định quy mô gia đình cho đến các quyết định về chính sách và chưomg trĩnh ở mọi cấp độ." và "Sự tham gia bĩnh đẳng của phụ nữ và nam giới trong mọi khía cạnh của trách nhiệm gia đĩnh, bao gôm kê hoạch hoá gia đình, nuôi dạy con cải và công việc gia đỉnh cần đirợc tăng cường và khuyến khích bởi các Chính phủ. Năm năm sau, tại Hội nghị “Cairo+5” những cam kết này một lần nữa đã được khẳng định lại và Quỹ Dân số 8 Liên hiệp quốc đã ban hành cuốn “Sự tham gia của nam giới trong sức khỏe sinh sản, bao gồm cả kế hoạch gia đình và sức khỏe tĩnh dục ” và xác định chi tiết hơn ke hoạch hành động đẩy mạnh sự tham gia của nam giới trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản [17].
Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành các chính sách nhằm nâng cao vị thế của người phụ nữ và tăng cường chăm sóc sức khoẻ sinh sản của phụ nữ [27], [28], [30], Một sự kiện quan trọng đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam đó là ngày 29/11/2006 Quốc hội nước cộng hoà xã hội Việt Nam khoá IX đã thông qua Luật Bình đẳng giới so 73/2007/QH11 với “Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đổi xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bĩnh đẳng thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời song xã hội và gia đình”. Sau khi Luật Bình đẳng giới được ban hành, ngày 03/5/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị sổ 10/2007/CT-TTg về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới và Bộ Chính trị cũng đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là những văn bản pháp lý quan trọng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, khắng định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam. Một sổ định kiến giới ở Việt Nam: Theo báo cáo Đánh giá tình hình giới ở Việt Nam do Ngân hàng Thế giới thực hiện, Việt Nam đứng hàng thứ 80 trên tổng số 136 quốc gia về chỉ số phát triển giới (GDI) và được đánh giá là một trong những nước thành công nhất trong những nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người [15].
Tuy nhiên, Việt Nam cũng là một quốc gia bị ảnh hưởng lớn bởi đạo Khổng, trong gia đình thì đàn ông được coi là “trụ cột”, là “chủ gia đĩnh” còn người phụ nữ là “nguời nội trợ” phải lo quán xuyến gia đình, chịu trách nhiệm sinh sản, chăm sóc con cái và gia đình. Sự tồn tại 9 các định kiến giới sẽ dẫn đến sự nhìn nhận, đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của cả nam và nữ [31]: - Nam giới là người trụ cột kiếm tiền: quan niệm này dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới, nam giới phải chịu gánh nặng trách nhiệm kiếm sống, thường xuyên phải xa gia đình, ít có thời gian để chăm sóc con cái và chia sẻ việc nhà. Quan niệm này gây áp lực tâm lý cho cả nam giới và nữ giới. Hậu quả là ảnh hưởng đến sức khoẻ, tuổi thọ và hạnh phúc gia đình, có thể tăng tệ nạn xã hội, lãng phí nguồn lực của xã hội, thu nhập của gia đình và xã hội thấp.