Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Văn Bách có tiêu đề "Sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam", thuộc chuyên ngành Luật Nhà nước (mã số 5.05.01), được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Minh Thông và PGS. Nguyễn Đăng Dung, bảo vệ năm 2002 tại Hà Nội.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một chế định pháp lý trung tâm trong lịch sử lập hiến Việt Nam, được ghi nhận xuyên suốt từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng vào thực tiễn, việc tổ chức thực hiện các quy định pháp luật bộc lộ những bất cập: ý thức tôn trọng quyền làm chủ của công dân trong bộ máy nhà nước chưa cao; tệ tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền và xâm phạm quyền công dân vẫn tồn tại; bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, thủ tục hành chính rườm rà gây phiền hà cho nhân dân; trình độ và hiểu biết pháp luật của công chức còn hạn chế. Trong bối cảnh Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền (với hai đặc trưng: quan hệ bình đẳng giữa Nhà nước và công dân; Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền), việc nghiên cứu toàn diện tiến trình lập hiến và cơ sở lý luận của chế định này là đòi hỏi khách quan cấp thiết.
Mục đích nghiên cứu của luận án là đưa ra các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện về mặt pháp luật các bảo đảm, phục vụ việc đổi mới công tác tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Để đạt mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Thứ nhất: Phân tích cơ sở lý luận của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về bản chất pháp lý và các nguyên tắc của chế định qua lịch sử lập hiến Việt Nam.
- Thứ hai: Nêu và phân tích các giai đoạn phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam để khẳng định quá trình ghi nhận, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện trong các bản Hiến pháp; làm rõ các đặc điểm phát triển; chỉ ra các ưu điểm, thành tựu cũng như các nhược điểm, tồn tại trong tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền, nghĩa vụ.
- Thứ ba: Nêu rõ sự cần thiết khách quan đòi hỏi phải đổi mới cho phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng các biện pháp hoàn thiện chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ giữa Nhà nước với công dân nói riêng; trách nhiệm tương tác giữa Nhà nước, các cơ quan nhà nước và công dân thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào cơ sở lý luận của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; phân tích tiến trình phát triển qua 4 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992) trong giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến năm 2002 tại Việt Nam; xác định các yêu cầu và biện pháp hoàn thiện chế định trong điều kiện đổi mới kinh tế - xã hội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu của các học giả pháp lý Việt Nam đã công bố trước thời điểm bảo vệ:
- GS. Đào Trí Úc (1989), “Khoa học pháp lý Việt Nam trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 1/1989.
- PGS. Trần Ngọc Đường (1991), “Quan niệm về quyền con người trong đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 1/1991.
- GS. Hoàng Văn Hảo và Chu Văn Thành (1993), “Quyền con người, quyền công dân”, Tạp chí Cộng sản, Số 5/1993.
- PGS. Nguyễn Đăng Dung (1993), “Sự phát triển quyền con người trong lịch sử lập hiến Việt Nam”, trong tập chuyên khảo Quyền con người, quyền công dân, Tập 1, Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
- Tập thể tác giả - Chủ biên Phạm Khiêm Ích và Hoàng Văn Hảo (1995), Quyền con người trong thế giới hiện đại, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội.
- PGS. Lê Minh Thông (1998), “Quyền con người - quá trình hình thành và phát triển”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 2/1998.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trên đã tiếp cận vấn đề quyền con người, quyền công dân ở những khía cạnh lý luận chung hoặc đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách bài bản, toàn diện và có hệ thống về sự phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua toàn bộ tiến trình lịch sử lập hiến Việt Nam (từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992). Luận án tiếp thu kết quả của các nghiên cứu trước để xây dựng một bức tranh tổng thể về mặt lập hiến, phân tích sự chuyển hóa quy định pháp luật qua từng thời kỳ và đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm thực thi trong giai đoạn đổi mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do dân chủ và Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, cùng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người trong công cuộc đổi mới. Tác giả sử dụng các lý thuyết và khái niệm cốt lõi:
- Chủ nghĩa lập hiến và tư tưởng phân quyền: Dựa trên quan điểm của J. Locke và Montesquieu về giới hạn quyền lực nhà nước, chế độ đại diện và sự tối thượng của Hiến pháp trong việc bảo vệ quyền tự do cá nhân; luận giải tính lịch sử của chủ nghĩa lập hiến tư sản qua các mô hình ở Anh, Mỹ và Pháp.
- Quyền con người và Quyền công dân: Phân biệt quyền con người (thuộc tính tự nhiên vốn có, bắt nguồn từ phẩm giá con người, gắn với lý trí và lương tâm, mang tính phổ quát) và quyền công dân (nội hàm gắn với chủ quyền quốc gia, quy chế pháp lý và mối liên hệ quốc tịch với một nhà nước cụ thể). Khẳng định hai khái niệm này là đồng loại, thống nhất biện chứng và không đối lập.
- Quyền cơ bản của công dân: Là hệ thống các khả năng của mỗi công dân được tự do lựa chọn những hành động được quy định trong Hiến pháp và được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của công dân và xã hội.
- Nghĩa vụ cơ bản của công dân: Là hệ thống quy tắc xử sự bắt buộc, đòi hỏi tất yếu phải hành động do Hiến pháp quy định đối với mọi công dân vì lợi ích chung của Nhà nước, xã hội và bản thân công dân.
- Quy chế pháp lý của công dân: Tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ công dân, gồm 5 bộ phận: quốc tịch; năng lực pháp luật và năng lực hành vi; các nguyên tắc hiến định; hệ thống quyền, tự do và nghĩa vụ; các biện pháp bảo đảm thực hiện.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận định tính thuần túy trong khoa học pháp lý, bao gồm:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đặt sự phát triển của các quy định hiến pháp trong mối liên hệ với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và bối cảnh chính trị - xã hội của từng giai đoạn cách mạng.
- Phương pháp so sánh luật học: Thực hiện so sánh lịch sử lập hiến theo trục thời gian (so sánh dọc qua 4 bản Hiến pháp Việt Nam) và so sánh theo chiều ngang giữa chế định quyền công dân của Việt Nam với các nước và các chế độ chính trị khác.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản: Rà soát các điều khoản của 4 bản Hiến pháp và hệ thống luật, bộ luật, pháp lệnh nhằm đánh giá mức độ thể chế hóa và tính khả thi của các quy định.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Được tác giả sử dụng nhằm khảo sát, lý giải thực trạng nhận thức và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân trên thực tế.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- 4 bản Hiến pháp Việt Nam: 1946, 1959, 1980 và 1992.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2002.
- Các văn kiện pháp lý và tuyên ngôn quốc tế: Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ (1776), Hiến pháp Hoa Kỳ (1787), Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1789), Hiến pháp Pháp (1791, 1958), Công ước La Hay (1930), Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1976), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1976), Công ước về quyền trẻ em (1991).
- Tác phẩm kinh điển và văn kiện của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh (Bản yêu sách 8 điểm năm 1919, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, báo cáo năm 1945 và 1959), cùng các bài viết, phát biểu của Kofi Annan, Jacques Mourgeon.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Chương 1 làm sáng tỏ bản chất pháp lý và các nguyên tắc nền tảng của chế định:
- Bản chất pháp lý: Tác giả truy nguyên lịch sử ra đời của chủ nghĩa lập hiến từ thời kỳ cách mạng tư sản nhằm chống lại chế độ phong kiến chuyên chế. Luận án phân tích sự khác biệt giữa các mô hình lập hiến: mô hình thỏa hiệp giữa tư sản và quý tộc ở Anh (hiến pháp không thành văn), mô hình dân chủ cộng hòa nhưng duy trì chế độ nô lệ ở Mỹ (Hiến pháp năm 1787), và mô hình dân chủ tư sản triệt để ở Pháp (Tuyên ngôn năm 1789 và Hiến pháp năm 1791). Tác giả luận chứng sự phân biệt giữa quyền con người và quyền công dân, khẳng định quyền công dân là hình thức pháp lý thể chế hóa quyền con người trong phạm vi chủ quyền của mỗi quốc gia.
- 5 nguyên tắc hiến định của chế định:
- Nguyên tắc tôn trọng quyền con người: Được ghi nhận chính thức tại Điều 50 Hiến pháp năm 1992, thể hiện sự cam kết đối với các công ước quốc tế về nhân quyền năm 1976 và quyền trẻ em năm 1991.
- Nguyên tắc thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ: Quyền và nghĩa vụ là hai mặt không thể tách rời; việc thực hiện nghĩa vụ là điều kiện để hưởng quyền và bảo đảm cho sự phát triển xã hội.
- Nguyên tắc bình đẳng của công dân trước pháp luật: Mọi công dân không phân biệt dân tộc, giới tính, tôn giáo, thành phần xã hội đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
- Nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân: Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm quyền cho công dân, công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Nguyên tắc về sự phù hợp giữa quyền và nghĩa vụ với trình độ phát triển về mọi mặt của đất nước: Khối lượng quyền và các bảo đảm vật chất, pháp lý phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
Số liệu thống kê về việc ban hành luật cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ công dân qua các thời kỳ lập hiến được tác giả tổng hợp trong luận án:
| Thời kỳ lập hiến |
Số lượng văn bản luật ban hành |
Nội dung và các đạo luật tiêu biểu liên quan đến quyền công dân |
| Giai đoạn Hiến pháp 1946 (1946 - 1959) |
09 đạo luật |
07 đạo luật trực tiếp về quyền con người, quyền công dân: Luật về chế độ báo chí; Luật quy định quyền tự do hội họp; Luật quy định quyền tự do lập hội; Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và bất khả xâm phạm về nhà ở, đồ vật, thư tín (12/5/1957); Luật hôn nhân và gia đình (03/2/1960); Luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan QĐNDVN (31/5/1958). |
| Giai đoạn Hiến pháp 1959 (1959 - 1975) |
Ban hành có giới hạn do chiến tranh |
Luật Nghĩa vụ quân sự (11/5/1960); các luật tổ chức bộ máy: Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật tổ chức TAND, Luật tổ chức VKSND (03/8/1960), Luật tổ chức HĐND và UBHC các cấp (10/11/1962). Chủ yếu điều hành qua Pháp lệnh. |
| Thời kỳ 1976 - 1980 |
Hầu như không ban hành luật |
Đất nước mới thống nhất; chủ yếu ban hành Pháp lệnh và văn bản dưới luật để điều hành, chờ Hiến pháp mới làm căn cứ. |
| Giai đoạn Hiến pháp 1980 (1980 - 1992) |
61 luật và bộ luật |
22 đạo luật, bộ luật liên quan đến quyền con người, quyền công dân: Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Quốc tịch Việt Nam; Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân; Luật Báo chí; Luật Nghĩa vụ quân sự... |
| Giai đoạn Hiến pháp 1992 (1992 - 2002) |
Khoảng 40 luật và bộ luật |
Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Luật Đất đai; Luật Doanh nghiệp tư nhân; Luật Xuất bản; Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu; Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt; Luật Thuế doanh thu; Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp... |
Chương 2: Các giai đoạn phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam
Chương này phân tích chi tiết sự tiến hóa của chế định qua 4 bản Hiến pháp:
- Hiến pháp năm 1946 (Tiểu mục 2.1): Dành Chương II quy định về "Nghĩa vụ và quyền lợi công dân". Hiến pháp đặt nghĩa vụ trước quyền lợi (Điều 4: nghĩa vụ tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật, bảo vệ Tổ quốc; Điều 5: nghĩa vụ đi lính), xuất phát từ yêu cầu kháng chiến và bảo vệ nền độc lập non trẻ. Các quyền tự do dân chủ được xác lập: tự do ngôn luận, xuất bản, lập hội, hội họp, tín ngưỡng, cư trú, đi lại (Điều 10); quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, thư tín (Điều 11: "Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam"); quyền tư hữu tài sản (Điều 12); quyền học tập (Điều 15); quyền bầu cử và ứng cử (Điều 18); quyền bãi miễn (Điều 20); quyền phúc quyết Hiến pháp (Điều 21). Hạn chế: Chưa quy định đầy đủ các quyền kinh tế - xã hội; thiếu các bảo đảm vật chất và chưa thiết lập cơ quan chuyên trách kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
- Hiến pháp năm 1959 (Tiểu mục 2.2): Quy định tập trung tại Chương III. Phạm vi điều chỉnh mở rộng sang các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội nhằm phục vụ đường lối cải tạo và xây dựng CNXH ở miền Bắc (Điều 9). Quy định mới các quyền: quyền làm việc và nghỉ ngơi (Điều 30); quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 29); quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật (Điều 34); quy định Nhà nước chú trọng giáo dục thanh niên (Điều 35). Hiến pháp đã gắn quyền công dân với các bảo đảm vật chất từ phía Nhà nước dựa trên chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa.
- Hiến pháp năm 1980 (Tiểu mục 2.3): Xây dựng trên cơ sở phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ". Bổ sung nhiều quyền mới: quyền có quốc tịch Việt Nam (Điều 53); quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 56); quyền được bảo hiểm xã hội (Điều 59); quyền được bảo vệ sức khỏe (Điều 61); quyền được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình (Điều 64); quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng (Điều 65). Luận án chỉ rõ hạn chế: do chủ quan duy ý chí, một số quy định không có tính khả thi trong thực tế, làm giảm giá trị hiện thực của Hiến pháp, cụ thể là quyền học tập không phải đóng học phí (Điều 60), quyền khám chữa bệnh không mất tiền (Điều 61), quyền có nhà ở (Điều 62).
- Hiến pháp năm 1992 (Tiểu mục 2.4): Ghi nhận tại Chương V. Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện, tiến hành sửa đổi 26 điều và bổ sung 4 điều mới có ý nghĩa căn bản:
- Điều 50: Quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và do Hiến pháp, luật quy định.
- Điều 57: Quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.
- Điều 69: Quyền được thông tin của công dân.
- Điều 72: Nguyên tắc suy đoán vô tội ("Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật").
- Các đặc điểm phát triển (Tiểu mục 2.5): Tác giả khái quát các đặc điểm: sự phát triển của chế định gắn liền với từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam; diện bao quát các quyền ngày càng mở rộng từ quyền chính trị sang kinh tế, xã hội, văn hóa; có sự kết hợp hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ; chuyển dịch từ quy định mang tính nguyên tắc, tuyên bố sang quy định có tính khả thi gắn liền với trách nhiệm bảo đảm của Nhà nước.
Chương 3: Hoàn thiện chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong giai đoạn hiện nay
- Sự cần thiết khách quan (Tiểu mục 3.1): Bắt nguồn từ yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các cam kết nhân quyền quốc tế; yêu cầu khắc phục các biểu hiện tiêu cực như tham nhũng, quan liêu, phiền hà trong bộ máy nhà nước; và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN.
- Các biện pháp hoàn thiện (Tiểu mục 3.2): Luận án đề xuất 4 nhóm biện pháp:
- Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật nhằm cụ thể hóa đầy đủ các quyền hiến định, loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn.
- Cải cách bộ máy nhà nước và thủ tục hành chính, giảm thiểu sự cồng kềnh, xóa bỏ tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyền.
- Nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và hiểu biết pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.
- Nâng cao hiệu lực bảo vệ quyền công dân thông qua các cơ quan tư pháp, mở rộng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, nghĩa vụ công dân của nhân dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về bản chất pháp lý của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong khoa học luật nhà nước Việt Nam; luận giải ranh giới lý luận và mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa quyền con người và quyền công dân.
- Xác định và làm rõ 5 nguyên tắc hiến định chi phối việc xây dựng và thực thi chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong tiến trình lập hiến.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Phân tích có hệ thống và toàn diện quá trình phát triển của chế định qua cả 4 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992), chỉ ra sự phụ thuộc của việc mở rộng quyền công dân vào điều kiện kinh tế - xã hội và nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng.
- Đánh giá khách quan các ưu điểm và hạn chế của từng bản Hiến pháp, đặc biệt là việc chỉ ra tính chất chủ quan duy ý chí trong các quy định về quyền xã hội của Hiến pháp năm 1980.
- Khảo cứu thực trạng hoạt động lập pháp từ năm 1945 đến năm 2002, lượng hóa số lượng luật qua từng thời kỳ triển khai Hiến pháp.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng tiếp tục cụ thể hóa các quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận.
- Đưa ra các giải pháp đồng bộ về cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy nhà nước, tăng cường các thiết chế tài phán bảo vệ quyền, nâng cao năng lực công chức và phát huy quy chế dân chủ ở cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Các phân tích và dữ liệu lập pháp của luận án dừng lại ở thời điểm năm 2002 (theo hiệu lực của Hiến pháp năm 1992 trước các giai đoạn sửa đổi, bổ sung sau này). Do phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu vào khía cạnh luật nhà nước và lịch sử lập hiến, luận án chưa đi sâu vào cơ chế tài phán hiến pháp chuyên biệt để bảo vệ quyền công dân.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Dựa trên phạm vi nghiên cứu của tác giả, hướng phát triển tiếp theo là nghiên cứu sự tác động của các hiệp định thương mại quốc tế đối với việc sửa đổi các quy định pháp luật về quyền kinh tế, lao động của công dân; nghiên cứu cơ chế giám sát tính hợp hiến của các văn bản dưới luật vi phạm quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Luật Nhà nước, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Lịch sử Nhà nước và Pháp luật.
- Các chuyên gia nghiên cứu chính trị học, hành chính công và quyền con người.
- Các nhà hoạch định chính sách, đại biểu dân cử và cán bộ làm công tác lập pháp, tư pháp.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Chương 1: Cơ sở lý luận phân biệt quyền con người - quyền công dân và 5 nguyên tắc hiến định.
- Chương 2: Bảng dữ liệu và các phân tích so sánh đối chiếu điều khoản cụ thể qua 4 bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992.
- Chương 3: Các luận cứ khoa học về sự cần thiết hoàn thiện pháp luật gắn với việc thực thi quy chế dân chủ ở cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "quyền con người" và "quyền công dân" dựa trên những tiêu chí nào?
Theo Chương 1 của luận án, tác giả chỉ ra:
- Quyền con người: Là thuộc tính tự nhiên vốn có gắn liền với bản chất và phẩm giá con người sinh ra đã có, không do Nhà nước ban tặng, xuất hiện từ khi có đời sống xã hội và mang tính phổ quát toàn cầu.
- Quyền công dân: Là nội hàm của quyền con người khi được thể chế hóa trong pháp luật của một quốc gia cụ thể, gắn liền với chủ quyền quốc gia, quy chế pháp lý và mối liên hệ quốc tịch của cá nhân với Nhà nước đó. Quyền công dân mang tính xác định hơn và được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng hệ thống pháp luật.
2. Điểm đặc thù trong kết cấu Chương II của Hiến pháp năm 1946 về quyền và nghĩa vụ công dân là gì?
Hiến pháp năm 1946 đặt tên Chương II là "Nghĩa vụ và quyền lợi công dân", trong đó đặt các điều khoản về nghĩa vụ (Điều 4: nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật; Điều 5: nghĩa vụ đi lính) lên trước các điều khoản về quyền lợi. Luận án giải thích điểm đặc thù này là do hoàn cảnh lịch sử cấp bách sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc, bảo toàn lãnh thổ và giữ vững chính quyền cách mạng là ưu tiên hàng đầu.
3. Những quy định nào trong Hiến pháp năm 1980 bị luận án đánh giá là "chủ quan duy ý chí" và thiếu tính khả thi?
Luận án chỉ rõ 3 điều khoản trong Hiến pháp năm 1980 thiếu cơ sở thực tiễn và không thể bảo đảm thực hiện đầy đủ trên thực tế:
- Điều 60: Quyền học tập không phải đóng học phí.
- Điều 61: Quyền khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền.
- Điều 62: Quyền có nhà ở của công dân.
4. Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung 4 điều mới nào liên quan trực tiếp đến chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân?
4 điều mới được bổ sung tại Chương V Hiến pháp năm 1992 gồm:
- Điều 50: Ghi nhận quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở quyền công dân và quy định trong Hiến pháp, luật.
- Điều 57: Ghi nhận quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.
- Điều 69: Ghi nhận quyền được thông tin của công dân.
- Điều 72: Ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội (không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật).
5. Số lượng đạo luật liên quan đến quyền con người, quyền công dân được Quốc hội thông qua trong giai đoạn thực hiện Hiến pháp năm 1980 là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê tại trang 50 của luận án, sau khi Hiến pháp năm 1980 được thông qua, trong tổng số 61 luật và bộ luật được Quốc hội ban hành nhằm cụ thể hóa Hiến pháp, có 22 đạo luật và bộ luật có những điều khoản liên quan trực tiếp đến quyền con người và quyền công dân (tiêu biểu như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Báo chí...).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Văn Bách là công trình nghiên cứu hệ thống về sự hình thành và phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua 4 bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992). Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, bản chất pháp lý và 5 nguyên tắc hiến định chi phối chế định trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc phân tích thực trạng lập pháp và thực tiễn thi hành giai đoạn 1945 - 2002, công trình khẳng định tính tất yếu của việc mở rộng và bảo đảm quyền công dân phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp luận cứ khoa học cho công tác hoàn thiện pháp luật, cải cách hành chính và tổ chức thực thi quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam.