Nghiên cứu sự phát triển quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Chuyên ngành

Luật Nhà nước

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2002

242
8
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHẾ ĐỊNH QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

1.1. Bản chất pháp lý của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

1.2. Các nguyên tắc của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

2. CHƯƠNG 2: CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN QUA LỊCH SỬ LẬP HIẾN VIỆT NAM

2.1. Sự ghi nhận nghĩa vụ và quyền lợi công dân trong Hiến pháp năm 1946

2.2. Sự phát triển quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1959

2.3. Sự phát triển quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1980

2.4. Sự phát triển quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992

2.5. Các đặc điểm của sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

3.1. Sự cần thiết khách quan hoàn thiện chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong giai đoạn hiện nay

3.2. Các biện pháp hoàn thiện chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong giai đoạn hiện nay

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một phần quan trọng trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Quyền công dân không chỉ là những quyền lợi mà mỗi cá nhân được hưởng, mà còn là những nghĩa vụ mà họ phải thực hiện đối với xã hội và Nhà nước. Nghĩa vụ công dân bao gồm việc tuân thủ pháp luật, tham gia vào các hoạt động xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng lập hiến đã hình thành từ những cuộc đấu tranh lịch sử, phản ánh sự phát triển của quyền và nghĩa vụ trong bối cảnh xã hội. Các nguyên tắc cơ bản của chế định này bao gồm sự bình đẳng, tự do và trách nhiệm của công dân. Những nguyên tắc này không chỉ thể hiện trong các văn bản pháp luật mà còn trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày.

1.1. Bản chất pháp lý của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Bản chất pháp lý của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định qua các Hiến pháp qua các thời kỳ. Hiến pháp năm 1946 là văn bản đầu tiên ghi nhận quyền và nghĩa vụ của công dân, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập hiến Việt Nam. Từ đó, các Hiến pháp sau này như năm 1959, 1980 và 1992 đã tiếp tục mở rộng và hoàn thiện chế định này. Quyền con ngườinghĩa vụ xã hội được nhấn mạnh, thể hiện sự phát triển của tư tưởng nhân quyền trong bối cảnh xã hội chủ nghĩa. Sự ghi nhận này không chỉ mang tính hình thức mà còn có ý nghĩa thực tiễn, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong xã hội.

II. Các giai đoạn phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam

Lịch sử lập hiến Việt Nam đã chứng kiến nhiều giai đoạn phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Từ Hiến pháp năm 1946, quyền và nghĩa vụ của công dân được ghi nhận một cách chính thức, đánh dấu sự chuyển mình từ chế độ thực dân sang một Nhà nước độc lập. Hiến pháp năm 1959 đã mở rộng quyền lợi của công dân, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị và xã hội. Đến Hiến pháp năm 1980, chế định này tiếp tục được củng cố, nhấn mạnh vai trò của công dân trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Cuối cùng, Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận một cách đầy đủ và chi tiết hơn về quyền và nghĩa vụ của công dân, phản ánh sự phát triển của tư tưởng nhân quyền trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

2.1. Sự ghi nhận nghĩa vụ và quyền lợi công dân trong Hiến pháp năm 1946

Hiến pháp năm 1946 là một bước ngoặt quan trọng trong việc ghi nhận quyền công dân. Văn bản này không chỉ khẳng định quyền tự do, bình đẳng mà còn nhấn mạnh nghĩa vụ của công dân đối với Tổ quốc. Đây là lần đầu tiên, quyền lợi của công dân được ghi nhận trong một văn bản pháp lý, tạo nền tảng cho các Hiến pháp sau này. Sự ghi nhận này không chỉ mang tính hình thức mà còn thể hiện sự tôn trọng quyền con người trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Điều này đã tạo ra một khung pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân trong xã hội.

III. Hoàn thiện chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong giai đoạn hiện nay

Trong bối cảnh hiện nay, việc hoàn thiện chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là rất cần thiết. Sự phát triển của xã hội và nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có những điều chỉnh phù hợp trong hệ thống pháp luật. Quyền tự donghĩa vụ xã hội cần được cân bằng để đảm bảo quyền lợi của công dân được thực hiện một cách hiệu quả. Các biện pháp hoàn thiện chế định này bao gồm việc nâng cao nhận thức của công dân về quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời cải thiện công tác tổ chức thực hiện các quy định pháp luật. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của công dân mà còn góp phần xây dựng một xã hội công bằng và văn minh.

3.1. Sự cần thiết khách quan hoàn thiện chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong giai đoạn hiện nay

Sự cần thiết hoàn thiện chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của xã hội. Khi đất nước chuyển mình sang nền kinh tế thị trường, các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân cần được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh mới. Pháp luật và quyền công dân cần phải được cập nhật để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Việc hoàn thiện chế định này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của công dân mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của đất nước. Các biện pháp cần thiết bao gồm việc nâng cao ý thức pháp luật trong cộng đồng và cải cách hành chính để giảm thiểu rào cản trong việc thực hiện quyền lợi của công dân.

10/02/2025
Luận án tiến sĩ luật học sự phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề về chế độ đại diện thay cho chế độ quân chủ chuyên chế. Lênin đã tùng nói: “Mot xã hội TBCN bình thường không thé phát triển được một cách thắng lợi nếu không có một chế độ đại nghị vững chắc, nếu không để cho dân chúng được hưởng một số quyền chính trị nhất định” [24, tr. Dinh cao của-các tư tưởng đó là Lốc, Mông-Tex-Klơ, đã gan tư tưởng tự do cá nhân, tự do chính trị của con người với các nguyên lý xây đựng và tổ chúc Nhà nước, trong đó có tư tưởng về sự phân thành 16 quyền lập pháp và hành pháp, về quyền giám sát tối cao của nhân dân đối với những đại điện của mình trong Nghị viện. ° Về hình thức lập hiến điển hình nhất phải kể đến, đó là chế độ lập hiến ở Pháp.

Ở đó, chủ nghĩa lập hiến ra đời và phát triển như sự phủ định chế độ chuyên chế phong kiến. Không ở đâu có sự biểu hiện đậm nét, rạch ròi và có sức chấn động của chủ nghĩa lập hiến như cuộc dat cách mạng Pháp; ở Anh lại diễn ra dưới những hình thức khác, Nghị viện đã ra đời và tồn tại chứ không bị phế bỏ như ở Pháp, những âm mưu khẳng định quyền lực không hạn chế của chế độ quân chủ bị coi là xâm phạm đến truyền thống lịch sử, xâm phạm đến quyền của Nghị viện và của nhân dân. Sự ra đời của Hiến pháp không thành văn ở Anh trong thời kỳ cách mạng tư sản là một sự thỏa hiệp chính trị giữa tầng lớp chúa đất, bảo hoàng và giai cấp tư sản đang lên. Trong hoàn cảnh đó vấn đề phương pháp đạt được sự “cân bằng” tối đa và có ý nghĩa lớn.

Chính vì sự “cân bằng tế nhị” đó mà qúa trình chuyển hóa nước Anh thành nước dân chủ đại nghị tư sản bị kéo dài thêm 100 năm kể từ cuộc cách mạng năm 1688; ở Mỹ, cách mạng tư sẵn đã đẩy lý thuyết và thực tiễn của chủ nghĩa lập hiến lên một bước mới.Mác, trong những năm 70 va 80 của thế kỷ XVHI ở bắc Mỹ không những “lần đầu tiên tuyên bố một bản Tuyên ngôn về quyển con người và có một cú hich đầu tiên cho cách mang châu Âu, mà còn xuất hiện lần đầu tiên tư tưởng về một nền cộng hòa dan chủ vĩ dai” [45, tr. Sự phát triển qúa nhanh các sự kiện chính trị ở Mỹ không những đã sớm làm mất di ở tư tưởng Kha? sáng Mỹ tính tự biện, triết lý trim tượng, chung chung, mà còn lầm cho tư tưởng đó có [-huynh hướng thực tiễn hơn và phù hợp hơn lôi suy ngif “hợp lý” của người Mỹ. Thật vậy, ở Mỹ lần đầu tiên cho ta thấy một khuôn mẫu lịch sử của chủ nghia lập hiến dưới hình thức dân chủ cộng hòa, với sự thừa nhận Hiến pháp thành văn như một đạo luật cao nhất mà 17 không một đạo luật nào có thể trái lại được, hoặc thay đổi được, với sự hiện diện của một hệ thống phân quyền và chế ước quyền lực, cân bằng với nhau, với tuyên bố về các quyền (quyền con người, quyền công dân). Xét về bản chất, chế độ lập hiến của Mỹ vẫn không thể thoát khỏi sự thỏa hiệp chính tri giữa giai cấp tư san va tầng lớp chủ nô - chủ trang trại.

Sự thỏa hiệp đó đã tác động tiêu cực đến sự phát triển tiếp theo và để lại một vết nhơ trong Hiến pháp Mỹ năm 1787, đó là chế định về duy trì chế độ nô lệ ở a ^ Mỹ. Tuy nhiên, nếu so sánh các hình thức của chủ nghĩa lập hiến tư sản, thì hình thức lập hiến ở Pháp vẫn giữ vị trí quan trọng nhất và có ảnh hưởng lớn nhất vì cuộc đại cách mạng Pháp đã cho thế giới một cơ sở tổn tại của nền dân chủ tư sẵn có ảnh hưởng đến nhiều nước. Còn cách mạng tư sản Mỹ xảy ra ở nơi vốn là thuộc địa của Anh “ngoại vị” của thế giới tư ban lúc bấy giờ và nhiều tư tưởng, nguyên tắc lập hiến ở đó được diễn đạt theo ngôn ngữ của hệ thống pháp luật Äng-Lô-Xắc-Xông. Dù có những nét khác nhau thì mọi quan niệm về chủ nghĩa lập hiến đều nhất quán với nhau ở một điểm chính là thừa nhận vị trí trung tâm của Hiến pháp và ảnh hưởng tích cực của nó đến toàn bộ xã hội.

Đồng thời, Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất quy định về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chế độ văn hóa - xã hội, địa vị pháp lý của công dân, cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Tuy nhiên, để phục vụ lợi ích cục bộ của giai cấp tư sản, Hiến pháp tư sẵn đã che giấu bản chất bóc lot của mình thể hiện dưới hình thúc quy định một cách hình thúc các quyền, nghĩa vụ céng dan (chang-han như, về chức năng tư tưởng của Hiến puap Mỹ nam 1787). Quyền con người và quyền công đân là những khái niệm không đồng nhất xét cả về phương diện lịch sử chủ thể, nội dung và tính chất xã hội. Theo dõi quá trình đặt giải quyết những vấn đề quyền con người qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, chúng ta thấy) một ‘quan niệm1 chung vé quyén L A TS.

DAI HỌCMAlaHA NC! | THUVIEN TRU ONGG DOC ¬-— | PHON 18 con người đã được xác lập ngày càng vững chắc. Bản Tuyên ngôn thế giới Lẻ về nhân quyền năm 1948, đã khẳng định: “Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền. Họ được phú cho lý trí và lương tâm và cần đối xử với nhau trong tình anh em” [5, tr. Rang, mỗi con người, mỗi thành viên trong xã hội đều có các quyền mà quyền lực phải tôn trọng.

Các quyền này là thuộc tính tự nhiên vốn có của con người, nên được gọi là “quyền tự nhiên”. Trí tuệ tìm thấy, phát hiện ra chúng, làm cho mọi người có ý thức rõ rệt về chúng và đòi hỏi phải đề cao, phải bảo vệ chúng bằng pháp luật. Đó là sự bảo vệ quyền con người, mà các quyền con người bắt nguồn từ “phẩm giá vốn có trong mỗi con người” mà mọi người sinh ra đã có. Quan niệm cho rằng, quyền con người gắn liền với bản chất con người.

Ngày nay quan điểm đó đã trở thành quan niệm chung của cả cộng đồng nhân loại cùng quan tâm và chia sẻ. Trong cuốn sách “Các quyền con ` người” do Liên hợp quốc xuất bản năm 1978 để kỷ niệm 30 năm ngày ra đời Ban Tuyên ngôn lịch sử “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyển” năm 1948, khẳng định rằng: Quyền con người có tính chất căn ban đến mức chúng ta không thể sống như con người nếu như không có các quyền này. Để khẳng định và thống nhất chung về “các quyền con người”, cuốn sách trên đã viết: Các quyền con người xuất phát từ những khát vọng ngày càng tăng của nhân loại muốn có một cuộc sống cho nhép mỗi con người được hưởng sự tôn trọng và được bao vệ đối với cá nhân mình. Các quyền con người là vốn có ngay ở bản chất của con người, mà nếu mất các quyền đó người ta không thể sống với tính cách là một con người.

Phủ nhận không cho con người sử đụng các quyền đó là sự mở đường cho rối loạn chính trị và xã hội, cho chiến tranh, cho sự thù địch giữa các dân tộc và giữa các nhóm trong nước. Khát vọng của 19 con người muốn có cuộc sống tốt đẹp hon và một quyền tự do lớn hơn mang tính chất một đòi hỏi cấp thiết hoàn toàn không phải là một đề tài suy tư, trừu tượng của các nhà Triết học và Luật học, các quyền con người liên quan đến đời sống hằng ngày của mọi người, dù là nam, nữ, hay trẻ em [92, tr. Trong bài diễn văn nhân dip ky niệm 50 năm ngày Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan khẳng định quan niệm chung của cộng đồng quốc tế về quyển con người, như sau: Quyền con người là nền tang cho sự hiện hữu và đồng tổn của nhân loại. Quyền con người là những gi lý trí đòi hỏi và lương tri yêu cầu.

Những quyền đó là chính chúng ta và chúng ta là chính những quyền đó; quyền con người, quyền mà bất cứ ai cũng có để làm người. Tất cả chúng ta đều là người; tất cả chúng ta đều xứng đáng hưởng quyền con người. Vế này không thể đúng nếu không có vế kia [92, tr. | Các quyển con người là thuộc tính tự nhiên vốn có của mỗi con người, không phải do Nhà nước hay bất cứ ai ban, tặng, cho.

Song, để bảo đảm các quyền này Phat triển, không bị tước đoạt va được thực hiện trên & \ i thực tế phải được bao vệ bằng pháp luật. Tức là, để đạt tới cái gọi là quyền con người với đầy đủ ý nghĩa của nó, cần có yếu tố thứ hai thiết định, đó là quy chế pháp lý (pháp luật; các đặc quyền “quyền tự nhiên” của cá nhân con người khi trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật). Hay nói cách khác, được pháp luật chấp nhận, tổ chức, bat buộc hoặc ngăn cấm thì mới trở thành các q. vền con người dich thực.

Như vậy, không có quyền con người nào mà lại không phải là một đặc quyền (quyền tự nhiên) không xuất phát từ đặc quyển. Nhưng không nhất thiết mọi đặc quyển đều là quyền Con người, mà chỉ những đặc quyền thuộc phạm vi chịu sự chỉ phối của pháp luật mới là quyền con người. Điều cốt yếu là các quyền con người phai được bao vệ bởi một chế độ pháp quyền để cho con người không phải sự tan bạo và áp bức như là phương sách cuối (buộc phải) nổi dậy chống lại cùng. Thừa nhận các quyền con người là vốn có khi sinh ra, điều đó hoàn toàn không có nghĩa rằng phủ nhận sự cần thiết của pháp luật.

Mác đã dùng hình ảnh sinh động “ví tựa như giới hạn giữa hai thửa ruộng được quy định € bởi các cọc chia bờ, luật pháp cũng cần thiết để quy định giới hạn trong đó tự do của người này không phương hại đến tự do của người khác” [53, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Sự phát triển quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lịch sử lập hiến Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình hình thành và phát triển quyền và nghĩa vụ của công dân trong bối cảnh lịch sử lập hiến của Việt Nam. Tác giả phân tích các giai đoạn quan trọng, từ những quy định ban đầu cho đến những thay đổi trong các hiến pháp sau này, nhấn mạnh vai trò của quyền con người trong việc xây dựng một xã hội công bằng và dân chủ. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình mà còn khuyến khích sự tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về quyền con người và quyền công dân, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ luật học quyền con người quyền công dân của phụ nữ lào thực trạng và giải pháp, nơi đề cập đến thực trạng và giải pháp cho quyền của phụ nữ. Ngoài ra, bài viết Kỷ yếu hội thảo khoa học quyền cơ bản của công dân lý luận và thực tiễn sẽ cung cấp thêm thông tin về lý luận và thực tiễn liên quan đến quyền cơ bản của công dân. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận án pháp luật về giới hạn quyền con người quyền công dân ở việt nam hiện nay, để nắm bắt những giới hạn và thách thức trong việc thực thi quyền con người tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quyền và nghĩa vụ của công dân trong xã hội hiện đại.