Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Trong tiến trình đổi mới đất nước như hiện nay, một loạt vấn đề nảy sinh từ thực tiễn về mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, về vai trò tích cực của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh. cần phải được nghiên cứu, tổng kết nhằm luận giải cho các quan điểm đổi mới đất nước, xác định những luận cứ khoa học tạo cơ sở vững chắc để xây dựng các chế định pháp lý, góp phần hoàn thiện bộ máy Nhà nước, bảo vệ quyền lợi của công dân. Trong đó, việc nghiên cứu các quy định, các cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn giữa Nhà nước với công dân để nhà nước thực sự là công cụ chủ yếu, bảo vệ và thực hiện quyền làm chủ của công dân ngày càng thu hút đông đảo sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan, tổ chức, nhiều nhà khoa học. Nghiên cứu về vấn đề này có một số công trình, bài viết tiêu biểu sau: 1.
NHÓM CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU MANG TÍNH LÝ LUẬN ĐỊNH HƯỚNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VỚI CÔNG DÂN 1. Các công trình, tài liệu nghiên cứu trong nước - Nguyễn Văn Mạnh, Nhận thức và thực tiễn vận dụng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tổ chức bộ máy nhà nước trong thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay) [66]. Nội dung đề tài được chia làm ba phần. Phần thứ nhất là những quan điểm, chủ trương của Đảng về đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.
Các tác giả tập trung làm rõ cơ sở lý luận về đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước trong đó có Tòa án. Thực trạng thể chế hóa vận dụng quan điểm của Đảng về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước được các tác giả đánh giá chi tiết trong phần thứ hai của đề tài. Phần thứ ba, đề tài đưa ra phương hướng vận dụng quan điểm của Đảng trong đổi mới tổng thế tổ chức bộ máy nhà nước và các giải pháp để kiện toàn, đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền theo thực thế Việt Nam. 10 - Nguyễn Văn Yểu, Lê Hữu Nghĩa, Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới [130].
Với nội dung nhìn lại 20 năm đổi mới tư duy về Nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam các tác giả làm rõ những luận điểm khoa học về nhà nước pháp quyền, dân chủ và mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, sự phân công quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước, mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các tác giả cũng đưa ra các vấn đề cần tiếp tục đổi mới trong hoạt động lập pháp, hành pháp, cải cách hành chính nhà nước, hoàn thiện tổ chức bộ máy Tòa án và xét xử vụ án hành chính. - Đào Trí Úc, Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [117]. Từ sự phân tích nền tảng lý luận của việc xây dựng cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sự tổng kết hơn 20 năm thực hiện các cơ chế dân chủ, cơ chế và hình thức giám sát của nhân dân, kết hợp với những nghiên cứu, đánh giá kinh nghiệm của nước ngoài.
Các tác giả đưa ra các yếu tố tích cực hợp lý với việc xây dựng, đổi mới các cơ chế kiểm tra giám sát từ phía nhân dân đối với bộ máy công quyền. Đồng thời cuốn sách đưa ra đề xuất mô hình cả về lý luận và thực tiễn cho các cơ chế kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với các thiết chế bộ máy của Đảng và Nhà nước. Mô hình đó cần đảm bảo mục đích kiểm tra hữu hiệu, vừa bảo đảm tính khả thi phù hợp với tình hình thực tế của hệ thống chính trị Việt Nam - Nguyễn Chí Dũng, Cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam [20]. Trong luận án này, tác giả phân tích các khái niệm có ý nghĩa làm cơ sở lý luận cho cơ chế giám sát hoạt động tư pháp.
Có thể kể đến đó là khái niệm quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, giám sát; mối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố tạo nên hệ thống cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp. Các yếu tố cấu thành cơ chế này bao gồm: phương thức tổ chức giám sát; yếu tố pháp lý; mối quan hệ tương tác giữa chủ thể giám sát có tác động đến đối tượng giám sát. Các yếu tố này là tiền đề của nhau, bổ xung cho nhau và để hoàn thiện cơ chế pháp lý. Khi nghiên cứu cần xác định rõ vai trò của các yếu tố này một cách độc lập tương đối và vai trò của chúng trong mối quan hệ là các yếu tố hợp thành tạo nên cơ chế 11 pháp lý giám sát.
Từ những cơ sở lý luận luận án phân tích thực trang cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp. Xem xét các yêu cầu khách quan, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Một số vấn đề lý luận về cơ chế giám sát của luận án có ý nghĩa tham khảo đối với đề tài của nghiên cứu sinh trong việc xác định các vấn đề bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức khi tham gia vụ án hành chính - Nguyễn Mạnh Bình, Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực Nhà nước ở Việt Nam hiện nay [7]. Tác giả cho rằng trong hệ thống cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với thực hiện quyền lực Nhà nước bao gồm 5 yếu tố cấu thành.
Đó là: hệ thống thiết chế; hệ thống thể chế; hình thức và phương pháp giám sát; trình tự và thủ tục giám sát; hậu quả giám sát xã hội. Cơ chế pháp lý vận hành được tạo nên từ các yếu tố này. Các yếu tố này có vai trò nhất định, là tiền đề và bổ xung cho nhau để tạo nên một cơ chế hoàn chỉnh. Dựa trên những phân tích cơ sở lý luận của cơ chế giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực Nhà nước luận án phân tích thực trạng các yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý giám sát xã hội.
Từ thực tế tìm ra những nguyên nhân, bài học từ đó rút ra yêu cầu khách qua và các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực Nhà nước trong điều kiện Việt Nam hiện nay. Luận án chỉ dừng ở phạm vi cơ chế pháp lý giám sát nên chưa đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể, tuy nhiên những vấn đề lý luận nêu ra có ý nghĩa tham khảo cho nghiên cứu sinh. - Bộ Tư pháp, Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân [8]. Công trình chuyên khảo, nghiên cứu đánh giá về cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và thực tiễn về cải cách tư pháp ở Việt Nam.
Đề tài luận giải cơ sở lý luận và quá trình hình thành quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp từ năm 1986 đến 2006; thực tiễn việc triển khai các nghị quyết về cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phạm vi các cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án, thi hành án và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp. Nội dung đề tài cũng xác định những vấn đề lý luận và thực tiễn của nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án; vấn đề tranh tụng và hiệu quả xét xử 12 của Tòa án. Đề tài cũng đưa ra mô hình tổ chức của cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp như Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, thi hành án, các tổ chức luật sư, tư vấn pháp luật, giám định tư pháp, công chứng. - Đào Trí Úc, Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [115].
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, khái niệm tuy đã được hình thành từ rất lâu nhưng trong thực tế mới đang được định hình. Các tác giả tập trung xác định mô hình lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam để giúp có thêm những điều kiện nhận thức cho tiến trình cải cách về lập pháp, hành pháp và tư pháp đang được thực thi mạnh mẽ. Với các cơ quan xét xử, các tác giả đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan này, đưa ra các nguyên tắc thiết kế tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề xuất mô hình tổng thể về tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án. - Nguyễn Đăng Dung, Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước [17].
Nhà nước phải chịu trách nhiệm về những hành vi hoạt động của mình. Bảo đảm sự độc lập của tòa án là biểu hiện của sự chịu trách nhiệm của nhà nước. Hiệu quả xét xử của tòa án phụ thuộc rất nhiều vào sự độc lập này. - Nguyễn Phú Trọng, Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân do nhân dân, vì nhân dân [107].
Cuốn sách là tập hợp những bài nói, bài viết và trả lời phỏng vấn báo chí về vấn đề phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền. Tác giả khẳng định: Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là nhà nước đại đoàn kết toàn dân, dựa trên nền tảng của khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được đặt ra như một tất yếu khách quan.