CHƯƠNG 1:@2Ø để Cy Cade 1.1 Tai sao cần ng hình anh, phim trong giảng dạy hóa học ? Theo nhà nghiên cứu Robert Z. Marzano [4] thì học sinh hoc được: 10% khi doc 20% khi nghe 30% khi nhìn 50% khi nghe và nhìn 70% khi tiếp xúc với bạn 90% khi giải thích cho người khác Như vậy, học sinh tiếp thu kiến thức khi nhìn nhiều hơn nghe và hiệu suất sẽ cao hơn khi kết hợp cả nghe và nhìn. Khi chỉ nghe giảng, sự tiếp thu kiến thức phụ thuộc vào vốn kinh nghiệm của học sinh và hiệu quả của kinh nghiệm, năng khiếu của người thầy. Nếu không có trí tưởng tượng cá nhân tốt học sinh sẽ rất khó hình dung các sự vật, hiện tượng mà giáo viên trình bày.
Do đó, khi dạy học nhiều đối tượng, giáo viên nên tạo ra hai kênh giao tiếp: hình ảnh và lời. Mặt khác, hóa học nghiên cứu về các chất và sự biến đổi từ chất này sang chất khác. Muốn hiểu về các chất thì phải tiếp xúc với chúng, làm thí nghiệm. Chúng ta quan sát những thay đổi về tính chất vật lý, hóa học và thực hiện các phép đo định lượng.
Sự quan sát vĩ mô này được thể hiện qua các kí hiệu, các phương trình hóa học, toán học. Và chúng ta giải thích cái mà chúng ta nhìn thấy, tưởng tượng bằng cách sử dụng những mô hình hóa học ở mức độ nguyên tử, phân tử. @ Vai trò của thí nghiệm biểu diễn: Không phải mọi điều giáo viên đều có thể diễn đạt trọn vẹn bằng lời nói, lời nói thì trừu tượng, thí nghiệm thì cụ thể. Nếu không có thí nghiệm giáo viên mất nhiều thời gian để giảng giải nhưng không rõ, không hết ý.
Chẳng hạn như khi giáo viên diễn tả màu sắc của các chất. Khi học sinh không thể tiếp thu chính xác và vững chắc, học sinh sẽ khó hiểu bài vì không có những biểu tượng rõ ràng, cụ thể về các hiện tượng hóa học và do đó học sinh sẽ chóng quên bài. Không được xem thí nghiệm biểu diễn học sinh không biết các kỹ năng thực hành. Học sinh không thể yêu thích bộ môn và không thể say mê khoa học với những bài giảng lý thuyết khô khan.
@ Những khó khăn khi giáo viên biểu diễn thí nghiệm: - Dụng cụ, hóa chất hạn chế. - Mất nhiều thời gian chuẩn bị. - Có nhiều thí nghiệm xảy ra chậm mà thời gian của 1 tiết học có hạn. - Độc hại, nguy hiểm, không phải thí nghiệm nào cũng có thé làm được.
_ - Tam lý thích đơn giản, làm hay không làm thí nghiệm cũng không ai khen hay chê. - Các dụng cụ thí nghiệm làm vướng bận khi di chuyển đổi tiết từ lớp này sang lớp khác, nhất là từ khối này sang khối khác. @ Ưu điểm của phim về các thí nghiêm: - Giáo viên không mất nhiều thời gian để chuẩn bị hóa chất, làm thử nhiều lần, không gây độc hại, nguy hiểm cho giáo viên và học sinh, có thể biểu diễn các thí nghiệm giáo viên không thể làm ở lớp học. - Sử dụng được nhiều lần ở nhiều lớp.
- Có thể cho lặp lai (repeat) hoặc tạm dừng (pause) khi cần nhấn mạnh các điểm quan trọng, học sinh phải lưu 4 ý. - Các thí nghiệm xảy ra chậm có thể biểu diễn trong vài phút. 2 Vai trò của hình ảnh tĩnh, động: - Cụ thể hóa cái trừu tượng (thay thế những vật quá bé mắt thường không nhìn thấy được, hay những vật không thể tiếp cận). SV: Nguyễn Thị Tuyết An - trang 5 - Hinh ảnh minh họa làm rõ nội dung bài học.
- Giúp giáo viên tiết kiệm thời gian, không giải thích dài dòng bằng lời. - Hình ảnh làm phát triển hứng thú học tập, lớp học sinh động. Hình ảnh động còn có ưu điểm sau: - Thể hiện được cấu trúc không gian 3 chiều. - Những minh họa bằng hình ảnh động làm học sinh có cảm giác “quy m6” hơn khi sử dụng hình ảnh tĩnh.
Như vậy rõ rang các video clip, hình ảnh tĩnh, động về các hiện tượng hóa học, các chất, công thức cấu tạo các chất. sẽ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy hóa học.2 Tại sao nên sử dụng thông tin trên Internet ? Thế kỷ 21 được coi là kỷ nguyên của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học. đang làm thay đổi mọi lĩnh vực hoạt động của con người và nó cũng đòi hỏi một hệ thống giáo dục mới với nội dung và phương pháp giảng dạy mới để thích nghỉ với môi trường xã hội thay đổi. Từ khi xuất hiện đến nay, Internet là hệ thống truyền thông đã và đang làm thay đổi cách sống, làm việc, vui chơi của từng cư dân trên trái đất.
Internet giống như một thư viện khổng 16 cho phép chúng ta tìm thấy thông tin về hầu như mọi chủ để và ứng dụng Internet vào giảng dạy là con đường, biện pháp giúp nâng cao hiệu quả dạy học mà các quốc gia trên thế giới đều quan tâm thực hiện. Ở nước ta, với chủ trương đổi mới mạnh mẽ phương pháp giảng dạy, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, nên luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp và phương tiện dạy học tiên tiến vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân [2| (Nghị quyết TW 2 - khóa 8), ngày 8/2/2002, thủ tướng chính phủ có quyết định số 33/2002/QĐ/TTg phê duyệt kế hoạch phát triển Internet ở Việt Nam _“*éx sảu đốt se40.@VHD: có Nguyễn Thị Minh Huệ, giai đoạn 2001 - 2005, quyết định ghi rõ đến 2005, khoảng 50% số trường THPT sẽ được kết nối mạng Internet.3 Giúp học sinh tự học: Một trong những nhiệm vụ trí dục - đức dục của việc giảng dạy hóa học ở trường phổ thông là phát triển ở học sinh năng lực nhận thức, thiên tư và tài năng, rèn luyện thói quen tự học, tự giáo dục. Theo kết quả điều tra, các em học sinh thường xuyên truy cập Internet ( chiếm 87%) nhưng chỉ với mục đích chat, mail, xem nhạc, phim. 92%), các em biết công cụ tìm kiếm (chiếm 12%) nhưng không biết từ khóa để tìm kiếm thông tin hóa học (chiếm 96%).
Thông qua những điểm hấp dẫn của hình ảnh, phim về các hiện tượng hóa học, ứng dụng của các chất, mô hình cấu tạo các chất. người giáo viên tạo cho học sinh sự say mê, thích thú đối với môn hóa. Từ đó, các em sẽ chủ động tìm kiếm thêm những kiến thức ngoài bài giảng. 94% học sinh thích và cho rằng việc được cung cấp địa chỉ, từ khóa là rất cần thiết.
SV: Nguyễn Thị Tuyết An trang 7 _đ⁄ẩxvdntétnghiip _GVHD: cô Nguyễn Thị Minh Huệ CHƯƠNG2.1 Nguyên nhân can trở việc sử dụng hình ảnh, phim trong giảng dạy hóa h Qua trao đổi với các giáo viên trường phổ thông, các thầy cô cho biết ít sử dụng hình ảnh, phim khi giảng dạ y là đo: - - Nguồn tài liệu hạn chế. - Giáo viên không thành thạo việc tìm kiếm trên mạng Internet. - Giáo viên không sử dung thành thao phan mềm trình diễn PowerPoint. - Tâm lý thích đơn giản và giáo viên thường chi tập trung cho học sinh giải các bài tập để kiểm tra.2 Mộtvài số liệu khả ¡m trường PTTH: Qua khảo sát 172 hoc sinh ở các khối 10, 11, 12 trường PTTH Trần Khai Nguyên, Trần Phú, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thượng Hiền, thu được các kết quả như sau: - Số học sinh thích môn hóa: 38%.
Trong đó số học sinh thích môn hóa do có nhiều thí nghiệm hay, biết được cấu tạo các chất, có nhiều ứng dụng trong cuộc sống: 55%. - Số học sinh không thích môn hóa: 62%. Trong đó số học sinh không thích môn hóa do trừu tượng không hình dung được: 45%. Trong các giờ học hóa, hoc sinh ít được xem thí nghiệm biểu diễn, hình ảnh minh họa: 73%.
- _ Số học sinh thường truy cập Internet: 87%. Giải trí (chơi game, xem phim, nghe nhac, chat. Tìm tư liệu học tập: 8%. - $6 học sinh không truy cập Internet: 13%.
- - Số học sinh biết công cu tìm kiếm: 12% - S6 học sinh không biết công cụ tìm kiếm: 88% - _ Số học sinh biết từ khóa tìm kiếm: 4% - S6 học sinh không biết từ khóa tìm kiếm: 96% “SV: Nguyén Thi Tuyết An trang 8 cHUONG 3: Geet Shida vé tnternet: 3.1 Khái niệm về Internet: Internet là một mạng nối kết tất cả các máy tính trên khắp thế giới. Vào năm 1989, World Wide Web (hệ thống trên nền Internet của các trang thông tin được liên kết) khai sinh.[4] Từ năm 1969, Internet đã phát triển từ 4 host máy tính cho đến hàng triệu host, điểu tuyệt diệu của Internet là không có ai sở hữu nó nhưng không có nghĩa là nó không được giám sát và bảo trì theo nhiều cách khác nhau. Internet Society, một tổ chức phi lợi nhuận thành lập năm 1992 đã giám sát sự hình thành của các chính sách và giao thức mà giao thức này định nghĩa cách thức mà chúng ta sử dụng và giao tiếp với Internet. Như vậy Internet là mạng của các mạng, nó kết nối lại với nhau một số lượng đáng kinh ngạc các mạng và đem lại cho chúng một cách thức chung để cung cấp nhiều dich vụ, chẳng hạn như thư điện tử (e-mail).
Internet là rất nhiều máy tính lên đến hàng triệu được kết nối với nhau bởi vô số dây dẫn như đường dây điện thoại, những tín hiệu video và kết nối vệ tinh.2 Hệ thống mạng: Một máy tính kết nối Internet là một thành phần của mạng, ngay cả đối với máy tính ở nhà bạn. Ví dụ, bạn có thể sử dụng modem quay số nội bộ kết nối với nhà cung cấp dịch vụ. Ở trường học, bạn có thể sử dụng mạng LAN của công ty đã được kết nối với Internet. Khi kết nối với nhà cung cấp dịch vụ, bạn đã là một thành phần trong mạng.
Như vậy, Internet đơn giản là một mạng của các mạng. Hầu hết các công ty truyền thông đều có đường trực dành riêng để kết nối đến nhiều vùng khác nhau. Trong một vùng, công ty sẽ có một điểm hiện diện (Point of Presence - POP). POP là nơi cho phép người dân trong vùng có thể truy cập đến mạng của công ty thông qua số điện thoại nội hạt hoặc kênh thuê riêng.