Khoá luận tốt nghiệp thiết kế và sử dụng thí nghiệm gắn kết với cuộc sống trong dạy học hóa học phần vô cơ lớp 12 thpt

Tài liệu nghiên cứu Khoá luận tốt nghiệp thiết kế và sử dụng thí nghiệm gắn kết với cuộc sống trong dạy học hóa học, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2017

140
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử vấn đề

1.2. Đổi mới PPDH môn Hóa học ở trường THPT

1.3. Định hướng đổi mới PPDH

1.4. Xu hướng đổi mới PPDH

1.5. PPDH môn Hóa học ở trường THPT

1.6. Những yêu cầu đổi mới PPDH môn Hóa học ở trường THPT

1.7. Cơ sở lý luận về thí nghiệm hóa học

1.7.1. Khái niệm thí nghiệm hóa học

1.7.2. Vai trò của thí nghiệm trong dạy học môn Hóa học ở trường THPT

1.7.3. Thí nghiệm hóa học là phương tiện trực quan

1.7.4. Thí nghiệm hóa học là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn

1.7.5. Thí nghiệm hóa học rèn luyện kĩ năng, thao tác thực hành

1.7.6. Thí nghiệm hóa học phát triển tư duy và niềm tin vào khoa học

1.7.7. Thí nghiệm hóa học gây hứng thú

1.8. Các yêu cầu khi sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học

1.8.1. Cách sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học ở trường THPT

1.8.1.1. Sử dụng thí nghiệm nghiên cứu bài mới
1.8.1.2. Sử dụng thí nghiệm trong giờ luyện tập, ôn tập
1.8.1.3. Sử dụng thí nghiệm trong giờ thực hành
1.8.1.4. Sử dụng thí nghiệm trong kiểm tra, đánh giá

1.9. Thí nghiệm gắn kết với cuộc sống

1.10. Thực trạng sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học ở một số trường THPT tại TP. HCM và Bà Rịa – Vũng Tàu

1.10.1. Mục đích điều tra

1.10.2. Đối tượng và phương pháp điều tra

1.10.3. Kết quả điều tra

1.10.4. Kết quả điều tra thực trạng việc học hóa học với thí nghiệm ở trường THPT của HS

1.10.5. Kết quả điều tra thực trạng việc dạy hóa học với thí nghiệm ở trường THPT của GV

1.11. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG THÍ NGHIỆM GẮN KẾT VỚI CUỘC SỐNG TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC PHẦN VÔ CƠ LỚP 12 THPT

2.1. Phân tích nội dung chương trình hóa học phần vô cơ lớp 12

2.2. Cấu trúc và nội dung chương trình hóa học phần vô cơ lớp 12

2.3. Mục tiêu dạy học

2.3.1. Mục tiêu của chương Đại cương về kim loại

2.3.2. Mục tiêu của chương Kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm

2.3.3. Mục tiêu của chương Sắt và một số kim loại quan trọng

2.4. Một số lưu ý dạy học hóa học phần vô cơ lớp 12

2.4.1. Về cấu tạo kim loại

2.4.2. Tính chất vật lí

2.4.3. Tính chất hóa học của kim loại

2.5. Tiêu chí và quy trình thiết kế các thí nghiệm hóa học theo hướng gắn kết với cuộc sống

2.5.1. Tiêu chí lựa chọn thí nghiệm hóa học để thiết kế theo hướng gắn kết với cuộc sống

2.5.2. Quy trình thiết kế các thí nghiệm hóa học theo hướng gắn kết với cuộc sống

2.6. Thiết kế và sử dụng các thí nghiệm gắn kết với cuộc sống trong dạy học hóa học phần vô cơ lớp 12

2.6.1. Thí nghiệm 1 “Viên sáp không đun vẫn rơi”

2.6.2. Thí nghiệm 2 “Sắt hay đồng chịu được axit?”

2.6.3. Thí nghiệm 3 “Dây sắt đổi màu”

2.6.4. Thí nghiệm 4 “Làm sáng đèn bằng quả chanh”

2.6.5. Thí nghiệm 5 “Dung dịch xanh kì lạ”

2.6.6. Thí nghiệm 6 “Điện phân dung dịch phèn xanh”

2.6.7. Thí nghiệm 7 “Viên sủi biến mất”

2.6.8. Thí nghiệm 8 “Núi lửa phun trào”

2.6.9. Thí nghiệm 9 “Dung dịch diệu kì”

2.6.10. Thí nghiệm 10 “Thổi đục nước vôi trong”

2.6.11. Thí nghiệm 11 “Vỏ ốc sủi bọt”

2.6.12. Thí nghiệm 12 “Tính chất hóa học của nhôm”

2.7. Giới thiệu giáo án có sử dụng các thí nghiệm hóa học gắn kết với cuộc sống đã thiết kế

2.7.1. Bài 26: Kim loại kiềm thổ và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ (Tiết 2 – Lớp 12 CB)

2.7.2. Bài 27: Nhôm và hợp chất của nhôm (Tiết 1 – Lớp 12 CB)

2.8. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích TNSP

3.2. Đối tượng TNSP. Nội dung TNSP

3.3. Tiến trình TNSP

3.4. Kết quả và xử lý số liệu TNSP

3.5. Kết quả bài kiểm tra của HS

3.6. Kết quả khảo sát ý kiến đánh giá của HS

3.7. Ý kiến của GV thực nghiệm và quan sát tình hình lớp học

3.8. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thiết kế thí nghiệm Hóa học

Thiết kế thí nghiệm Hóa học là một phần quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt trong môn Hóa học vô cơ lớp 12. Các thí nghiệm được thiết kế nhằm gắn kết với cuộc sống, giúp học sinh hiểu rõ hơn về ứng dụng thực tiễn của kiến thức hóa học. Việc thiết kế thí nghiệm cần tuân thủ các nguyên tắc khoa học, đảm bảo an toàn và phù hợp với nội dung chương trình.

1.1. Nguyên tắc thiết kế thí nghiệm

Các thí nghiệm Hóa học cần được thiết kế dựa trên các nguyên tắc như tính thực tiễn, an toàn, và khả năng ứng dụng cao. Thí nghiệm phải gắn liền với các hiện tượng trong cuộc sống, giúp học sinh dễ dàng liên hệ và vận dụng kiến thức. Ví dụ, thí nghiệm về phản ứng của kim loại với axit có thể được minh họa bằng việc sử dụng giấm ăn thay vì hóa chất phòng thí nghiệm.

1.2. Quy trình thiết kế thí nghiệm

Quy trình thiết kế thí nghiệm bao gồm các bước: xác định mục tiêu, lựa chọn dụng cụ và hóa chất, thiết kế quy trình thực hiện, và đánh giá hiệu quả. Các thí nghiệm cần được thử nghiệm nhiều lần để đảm bảo tính chính xác và an toàn. Ví dụ, thí nghiệm 'Làm sáng đèn bằng quả chanh' được thiết kế để minh họa nguyên lý của pin điện hóa.

II. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học

Sử dụng thí nghiệm trong dạy học là phương pháp hiệu quả để nâng cao hứng thú và kết quả học tập của học sinh. Thí nghiệm giúp học sinh hiểu sâu hơn về lý thuyết và phát triển kỹ năng thực hành. Việc sử dụng thí nghiệm cần được lồng ghép vào các bài giảng một cách hợp lý, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn.

2.1. Phương pháp sử dụng thí nghiệm

Các thí nghiệm Hóa học có thể được sử dụng trong các giai đoạn khác nhau của bài giảng, như giới thiệu bài mới, củng cố kiến thức, hoặc kiểm tra đánh giá. Ví dụ, thí nghiệm 'Viên sáp không đun vẫn rơi' được sử dụng để giới thiệu về tính chất của kim loại. Thí nghiệm cần được thực hiện một cách trực quan và sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh.

2.2. Hiệu quả của thí nghiệm trong dạy học

Việc sử dụng thí nghiệm Hóa học trong dạy học giúp học sinh phát triển tư duy khoa học, kỹ năng thực hành, và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Kết quả từ các thí nghiệm sư phạm cho thấy, học sinh có hứng thú và hiểu bài sâu hơn khi được học qua thí nghiệm. Ví dụ, thí nghiệm 'Dây sắt đổi màu' giúp học sinh hiểu rõ hơn về phản ứng oxi hóa khử.

III. Gắn kết cuộc sống trong giáo dục

Gắn kết cuộc sống trong giáo dục là xu hướng đổi mới trong dạy học, đặc biệt là môn Hóa học. Các thí nghiệm được thiết kế để liên hệ trực tiếp với các hiện tượng trong cuộc sống, giúp học sinh thấy được tầm quan trọng của kiến thức hóa học trong thực tiễn. Điều này không chỉ nâng cao hứng thú học tập mà còn giúp học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề.

3.1. Thí nghiệm gắn kết với cuộc sống

Các thí nghiệm Hóa học gắn kết với cuộc sống được thiết kế để minh họa các hiện tượng thường gặp trong đời sống hàng ngày. Ví dụ, thí nghiệm 'Thổi đục nước vôi trong' giúp học sinh hiểu về phản ứng của CO2 với nước vôi. Thí nghiệm này không chỉ dễ thực hiện mà còn có tính ứng dụng cao trong thực tiễn.

3.2. Ứng dụng thực tiễn của thí nghiệm

Các thí nghiệm Hóa học gắn kết với cuộc sống giúp học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Ví dụ, thí nghiệm 'Vỏ ốc sủi bọt' giúp học sinh hiểu về phản ứng của axit với vỏ ốc, từ đó áp dụng vào việc xử lý vỏ ốc trong đời sống. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả học tập mà còn giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề Thí nghiệm hóa học đóng vai trò vô cùng quan trọng trong dạy học hóa học, giúp nâng cao hiệu quả quá trình dạy và học môn Hóa học ở trường phổ thông. Thí nghiệm hóa học là một phương tiện trực quan, là cấu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, giúp HS rèn luyện kĩ năng thao tác thực hành, góp phần nâng cao hứng thú học tập bộ môn, giúp HS phát triển tư duy và bồi dưỡng niềm tin vào khoa học. Do đó, một trong những định hướng đổi mới trong dạy học hóa học ở trường THPT hiện nay là tăng cường sử dụng thí nghiệm hóa học trong quá trình dạy học, cũng như tìm ra những cách thức sử dụng thí nghiệm hóa học để nâng cao hiệu quả dạy học.

Có nhiều tác giả đã lựa chọn đề tài có liên quan đến thí nghiệm hóa học để nghiên cứu. Phạm Thị Thanh Nhàn (2001) [10] đã thiết kế được 13 thí nghiệm biểu diễn khi dạy phần hiđrocacbon, 9 giáo án giảng dạy có sử dụng các thí nghiệm đã thiết kế và giới thiệu thêm 4 thí nghiệm có thể quan sát ở nhà. Đề tài còn khẳng định tính quan trọng của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học: “Thí nghiệm hóa học đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong giảng dạy hóa học, là đặc thù riêng của bộ môn. Theo kết quả thống kê cho thấy HS rất hứng thú với những bài giảng mà GV sử dụng các phương tiện trực quan đặc biệt là thí nghiệm biểu diễn để giảng dạy”.

Trần Thị Ngọc Diễm (2007) [5] đã chọn lọc và thiết kế được 35 thí nghiệm vui trong chương trình hóa học phổ thông với hình thức mới lạ, vui mắt, tạo cho HS cảm giác thích thú. Ngoài ra, đề tài còn dựng lại các thí nghiệm bằng phần mềm Adobe Premiere pro 1. Bùi Thị Lệ Huyền (2010) [7] đã nghiên cứu, xây dựng và thử nghiệm 10 thí nghiệm giúp gây hứng thú học tập môn Hóa học. Đề tài cũng rút ra rằng HS yêu thích môn Hóa học hơn (chiếm 67,12%) bởi nhiều lý do, trong đó lý do “Được tự làm thí nghiệm” đạt số điểm rất cao (8,32/10 điểm).

Nguyễn Thị Trúc Phương (2010) [14] đã thiết kế thí nghiệm để tổ chức hoạt động học tập tích cực cho HS lớp 11 gồm 36 thí nghiệm trong chương trình hóa học THPT lớp 11 7 ban cơ bản và nâng cao, các thí nghiệm được thiết kế với nhiều mục đích dạy học khác nhau như thí nghiệm biểu diễn của GV, thí nghiệm của HS… Phạm Ngọc Thủy (2012) [16] đã nghiên cứu cơ sở lý luận về gây hứng thú bằng thí nghiệm hóa học kích thích tư duy do HS thực hiện. Bài báo đã thiết kế được 2 thí nghiệm hóa học kích thích tư duy do GV biểu diễn và do HS thực hiện. Kết quả thu được khi TNSP rất khả quan: 81,96% HS tham gia thực nghiệm tại các trường THPT tại TP. HCM như Mạc Đĩnh Chi, Tenlơman và Trường Chinh yêu thích môn Hóa học hơn.

Bài báo cũng đã khẳng định: “Thí nghiệm hóa học có ý nghĩa to lớn và giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện những nhiệm vụ của dạy học hóa học ở trường phổ thông. Nếu GV biết thiết kế và sử dụng thí nghiệm hóa học kích thích tư duy một cách hiệu quả sẽ giúp HS thêm hứng thú học tập và thêm yêu thích bộ môn hơn”. Vũ Thị Cẩm Nga (2015) [9] đã sử dụng thí nghiệm hóa học tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong 6 phương pháp: sử dụng thí nghiệm kiểm chứng; thí nghiệm so sánh; thí nghiệm nghiên cứu; thí nghiệm theo tình huống; thí nghiệm nêu vấn đề; thí nghiệm theo phương pháp dự án. Đề tài cũng đã khẳng định: “Nếu GV tiến hành dạy học có sử dụng thí nghiệm theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS với sự kết hợp hài hòa các yếu tố xung quanh bài dạy thì kết quả dạy học được nâng cao”.

Nguyễn Thị Thành Nhơn (2016) [11] đã thiết kế 18 thí nghiệm liên hệ đời sống thuộc 5 chủ đề bao gồm thí nghiệm biểu diễn của GV và thí nghiệm của HS sử dụng trong quá trình dạy học môn Hóa học bằng tiếng Anh theo chương trình THPT quốc tế IGCSE. Kết quả TN cho thấy đa số HS có hứng thú hơn với tiết học có sử dụng thí nghiệm liên hệ đời sống, kết quả kiểm tra kiến thức của thể hiện đa số HS hiểu bài và làm bài tốt. Nhiều HS nhận xét tiết học có sử dụng thí nghiệm rất thú vị và hấp dẫn, các em mong muốn có thêm những tiết học như vậy nữa, bên cạnh đó khi trao đổi với GV thực nghiệm cũng nhận được phản hồi tốt về mức độ hào hứng và tích cực của HS trong tiết học có sử dụng thí nghiệm. Nhìn chung, các đề tài ở trên đã đề cập đến việc sử dụng thí nghiệm hóa học nhằm nâng cao hứng thú, phát huy tính tích cực của HS trong quá trình học tập bộ môn Hóa học, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT.

Tuy nhiên, chưa có 8 đề tài nào nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng các thí nghiệm gắn kết với cuộc sống vào dạy học hóa học ở trường THPT, làm việc dạy học môn Hóa học vẫn còn xa rời với thực tế. Đổi mới PPDH môn Hóa học ở trường THPT 1. Định hướng đổi mới PPDH Điều 2, Luật Giáo dục (2005) đã chỉ ra: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [21]. Muốn đạt được những mục tiêu đó thì cần phải đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định quan điểm chỉ đạo định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [22]. Điều 3, khoản 2 của Luật Giáo dục (2005) đã chỉ rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [21]. Điều 28, khoản 1 của Luật Giáo dục (2005) đã nêu: “Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học” [21].

Điều 28, khoản 2, Luật Giáo dục (2005) đã đưa ra: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [21]. Qua những điều luật đã được trích lược ở trên, có thể thấy Nhà nước ta đang dành một sự quan tâm lớn cho giáo dục, coi đổi mới giáo dục là quốc sách hàng đầu. Mục đích của đổi mới giáo dục hiện nay là hướng đến đổi mới các PPDH, các PPDH tích cực, thay đổi 9 toàn diện quá trình dạy và học, áp dụng những phương pháp đạt được hiệu quả cao trên thế giới. Chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức, truyền thụ kiến thức một chiều sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất HS.

Qua đó phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; giúp HS có thể tự học, tự tìm tòi kiến thức mới; vận dụng các kiến thức đã học vào các tình huống cụ thể của cuộc sống thường ngày. Mục tiêu là tạo ra những công dân toàn cầu, đủ điều kiện để “sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới”. Xu hướng đổi mới PPDH Một số xu hướng đổi mới PPDH cơ bản đã được PGS.TS Trịnh Văn Biều trình bày trong giáo trình “Các PPDH tích cực và hiệu quả” [1]: - Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS.

Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá. Tạo điều kiện cho HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. - Phục vụ ngày càng tốt hơn họt động tự học và phương châm học suốt đời. Không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho HS phương pháp học tập, phương pháp tự học để thực hiện phương châm học suốt đời.

- Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế. Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trong việc vận dụng kiến thức. - Cá thể hóa việc dạy học. Việc dạy học thích ứng với năng lực và điều kiện của từng người học ở mức độ từ thấp đến cao.

- Dạy học hợp tác. Tăng cường mối quan hệ giữa người học với nhau nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác. - Tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học. - Từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức; sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với từng môn học.

- Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao. 10 Trong các xu hướng đã nêu ở trên, “Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế. Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trong việc vận dụng kiến thức” là một trong những xu hướng quan trọng nhất và đang được chú ý quan tâm trong việc đổi mới PPDH hóa học hiện nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thiết kế và sử dụng thí nghiệm gắn kết cuộc sống trong dạy học Hóa học vô cơ lớp 12" tập trung vào việc áp dụng các thí nghiệm thực tế, liên hệ trực tiếp với đời sống để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Hóa học vô cơ. Phương pháp này không chỉ giúp học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức mà còn phát triển kỹ năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết kế thí nghiệm sáng tạo, gần gũi với cuộc sống, từ đó kích thích sự hứng thú và tư duy sáng tạo của học sinh.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp dạy học Hóa học hiệu quả, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Luận văn thạc sĩ sử dụng thí nghiệm liên hệ đời sống trong dạy học hóa học bằng tiếng anh chương trình thpt quốc tế igcse, nơi phân tích cách áp dụng thí nghiệm thực tế trong chương trình quốc tế. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ xây dựng và sử dụng bài tập về các lý thuyết chủ đạo nhằm phát triển cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống cung cấp góc nhìn sâu hơn về việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức Hóa học. Cuối cùng, Luận văn tốt nghiệp xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hoá học phân hoá chương oxi lưu huỳnh lớp 10 chương trình chuẩn để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách xây dựng bài tập phân hóa để phát triển năng lực học sinh.