CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRỰC QUAN NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 3-4 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TOÁN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trong giáo dục, vấn đề trực quan đã được nghiên cứu từ lâu và được xem là một trong những nguyên tắc dạy học cơ bản nhất.Cômenxki là nhà giáo dục người Tiệp Khắc là người đã đặt nền móng cho việc xây dựng nền giáo dục tiên tiến, hiện đại của chủ nghĩa tư bản cho rằng: Việc sử dụng giáo cụ trực quan trong dạy học mầm non là “phương pháp vàng”. Theo ông: “Mọi chuyện đối với trẻ đều nên được khảo sát bằng tất cả các giác quan: nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ mó.
Một đối tượng nào đó mà cùng lúc có thể tri giác bằng một số giác quan, thì nó cần phải được nhận thức bằng những giác quan đó cùng lúc. Theo ông, nhận thức luôn được bắt đầu từ cảm giác. Do đó, việc học tập sẽ có kết quả tốt hơn nếu nó được bắt đầu bằng việc xem xét các đối tượng, quan sát các hiện tượng, các quá trình, hành động với các đối tượng ở xung quanh” (Lê Thị Thanh Nga, 2006). Cũng xuất phát từ chỗ xem quan sát là cơ sở của mọi tri thức, G.Pestalossi là một nhà giáo dục học Thụy Sĩ cho rằng: “Số cơ quan cảm giác tham gia vào quá trình nhận thức càng lớn thì kiến thức của chúng ta càng chính xác hơn”.
Tuy nhiên, khác với J.Cômenxki, theo ông trực quan được xem là điểm tựa để biến những biểu tượng chưa rõ ràng thành những biểu tượng rõ ràng, chính xác. Như vậy, tri giác cảm tính được gắn liền với quá trình tư duy (Phan Minh Tiến, 1998).Usinxki cho rằng, trực quan là cái ban đầu và là nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của con người. Trực quan làm cho quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh trở nên dễ dàng, tự giác, có ý thức và vững chắc hơn; tạo ra hứng thú học tập ở học sinh, kích thích tính tích cực của học sinh; là phương tiện tốt nhất giúp giáo viên gần gũi với học sinh và là phương tiện quan trọng để phát triển tư duy cho học sinh (Phan Minh Tiến, 1998). Phương pháp giáo dục Montessori của Bác sĩ và nhà giáo dục người Ý Maria Montessori với cơ sở lý luận về việc sử dụng giáo cụ giúp trẻ làm quen với toán cho Luan van 8 rằng: Việc hướng dẫn cho trẻ làm quen với toán học ngay từ tuổi mầm non là cơ hội tốt để sớm hình thành ở trẻ khả năng tìm tòi, quan sát, so sánh.
tăng cường vốn ngôn ngữ và phát triển tư duy. Quá trình hình thành các biểu tượng ban đầu về toán giữ một vai trò quan trọng, góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ ngay từ tuổi ấu thơ. Montessori cho rằng “tri thức toán học” là loại tri thức cần được nuôi dưỡng bằng sự chính xác tuyệt đối. Trẻ quan sát, trải nghiệm thế giới bằng cảm quan.
Từ những trải nghiệm này, trẻ sẽ trừu tượng hóa các khái niệm và bản chất của mọi sự vật ở môi trường xung quanh (Vũ Thị Hồng Hạnh & Vũ Thị Thanh Tuyền, 2017). Một số tác giả khác như Môngtenhơ, V.Leonchep, … cũng đã có những nghiên cứu về dạy học trực quan. Ngày nay, nhiều tác giả đã dành một vị trí đáng kể trong việc nghiên cứu vấn đề sử dụng các phương tiện trực quan trong quá trình dạy học, trong đó tác giả X.Sapôvalencô: “Chất lượng đồ dùng dạy học phải gắn chặt với chất lượng sử dụng nó của thầy giáo để nó có thể đạt hiệu quả giảng dạy và giáo dục cao” (Trần Doãn Quới, 1978).Piaget với “Thuyết phát sinh nhận thức” cho rằng: “Sự phát sinh, phát triển nhận thức – trí tuệ của trẻ em được chi phối bởi: Vai trò của sự luyện tập và kinh nghiệm thu được thông qua hoạt động với đối tượng. Kinh nghiệm vật lý là kinh nghiệm trẻ thu được nhờ hoạt động với đồ vật, kinh nghiệm logic – toán trẻ thu được nhờ thao tác trên đồ vật trẻ phát hiện ra tính chất của đồ vậy ấy” (Đinh Thị Tứ & Phan Trọng Ngọ, 2007).
Liên quan đến các vấn đề về quá trình hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ phải kể đến một số nghiên cứu như: Các nhà Tâm lý học và Giáo dục học Macxit khẳng định rằng: Mức độ nắm vững các biểu tượng nói chung và các biểu tượng toán học của trẻ còn phụ thuộc khá lớn vào phương pháp hướng dẫn của giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động của trẻ, đặc biệt là tổ chức các “tiết học” ở trường mẫu giáo (Đinh Thị Nhung, 2001).Ganpenrin, Davudov và cộng sự với công trình nghiên cứu về quá trình hình thành biểu tượng số ở trẻ mầm non (Bùi Thị Lan Duyên, 2014). Luan van 9 Qua các quan điểm cho thấy, việc trẻ có cơ hội được trải nghiệm thế giới xung quanh thông qua phương pháp trực quan, trẻ được trực tiếp cảm nhận bằng các giác quan của mình lên các đối tượng, đồ vật cụ thể sẽ có tác động mạnh mẽ trong việc phát triển nhận thức và trí tuệ của trẻ. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, một số quan niệm liên quan đến các phương pháp dạy học trực quan trong việc dạy trẻ mầm non làm quen với toán học đã xuất hiện: Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (1978) trong cuốn “Giáo dục học” đã nêu lên ý nghĩa và việc sử dụng một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, trong đó việc sử dụng đồ dùng trực quan đóng vai trò là một biện pháp then chốt. Chương trình GDMN của Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện hành trong lĩnh vực phát triển nhận thức cho trẻ MN đã đề ra các mục tiêu cụ thể.
Từ đó, cuốn Hướng dẫn tổ chức thực hiện Chương trình GDMN dành cho mẫu giáo (3-4 tuổi) ghi rõ: “Khả năng nhận thức của trẻ được phát triển qua việc tiếp xúc, tìm hiểu các đồ dùng, đồ chơi và các nguyên vật liệu, qua các hoạt động tìm hiểu cây, con, các hiện tượng tự nhiên, xã hội và qua làm quen với toán” (Lê Thu Hương và các cộng sự, 2017). Tác giả Nguyễn Kỳ (1995) trong “Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm” cho rằng: “Các dụng cụ trực quan, các phương tiện nghe nhìn hiện đại nhất sử dụng theo PP cổ truyền có thể vẫn duy trì người học trong thế thụ động ngồi nhìn thầy trình diễn, thụ đồng ngồi xem các chương trình nghe – nhìn”. Tác giả Thái Duy Tuyên (2008) trong “PP dạy học truyền thống và đổi mới” nhận định: “Để học sinh nhận thức được các sự vật hiện tượng một cách chính xác, sâu sắc và có độ nhớ lâu bền, trong quá trình dạy học cần huy động càng nhiều cơ quan cảm giác của học sinh vào quá trình nhận thức càng tốt”. Tác giả Phan Trọng Ngọ (2007) trong “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” ghi rõ: “Phương pháp dạy học trực quan, theo đúng nghĩa của nó không phải là giáo viên giới thiệu, trình bày các phương tiện trực quan, nhằm cung cấp cho người học nhiều hình ảnh cảm tính về sự vật, mà phải giúp người học hành Luan van 10 động tốt nhất với sự vật.
Dạy học trực quan - tức là dạy học phải được bắt đầu từ việc hướng dẫn người học hành động cảm tính với đối tượng học”. Theo Nguyễn Thị Hòa (2013) trong nghiên cứu “Phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi học tập”: “Biện pháp trực quan chính là cách thức cụ thể cho trẻ được quan sát, làm quen với các hiện tượng, sự việc và những đồ vật thật như tranh ảnh, phim, mô hình, sơ đồ miêu tả đồ vật này hay đồ vật khác, tính trực quan ở đây được thể hiện không chỉ giúp trẻ làm quen với thế giới xung quanh bằng mắt, bằng tai mà còn bằng cảm giác của đôi tay”. Theo tác giả Phan Trọng Ngọ (2000) trong cuốn “Vấn đề trực quan trong dạy học”, trong đó theo quan niệm về nhận thức của Heraclit: “Quá trình nhận thức bắt đầu từ cảm giác, không có cảm giác thì không có bất kỳ nhận thức nào”. Tác giả Lê Thị Thanh Nga (2006) trong giáo trình “Phương pháp hướng dẫn trẻ mầm non làm quen với biểu tượng toán học ban đầu” cho rằng: “Trong phương pháp dạy trẻ làm quen với biểu tượng toán thì nguyên tắc trực quan có liên hệ khá chặt chẽ với sự tích cực của trẻ”.
Trong giáo trình “Toán học và phương pháp dạy trẻ làm quen với toán” cho rằng: “Nguyên tắc học kết hợp với hành một cách khoa học là phải chọn đồ dùng dạy học và phương pháp dạy sao cho phù hợp với mục đích, nhiệm vụ dạy và học, đồng thời phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi của trẻ”. “Nhiệm vụ cơ bản của giáo viên trong việc hình thành các biểu tượng toán học ban đầu cho trẻ: Đối với trẻ mẫu giáo bé, chủ yếu dựa vào các vật cụ thể để tư duy và hình thành các kiến thức, vì vậy ta phải chú ý phát triển tư duy trực quan cho trẻ (Nguyễn Duy Thuận, Lương Thị Hùng & Đặng Ngọc Châm, 1988). Tương tự, trong giáo trình “Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với toán” cho rằng “Đồ dùng dạy học trực quan nhằm phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ thể hiện ở nguyên tắc đảm bảo tính trực quan” (Đỗ Thị Minh Liên, 2008). Ngoài ra, vấn đề này còn được một số tác giả khác nghiên cứu như Võ Chấp, Vũ Dũng, Phạm Minh Hạc, Đinh Thị Nhung, Tường Thị Phùng, Ngô Thúc Lanh, Đoàn Quỳnh, Nguyễn Đình Trí, Phạm Thị Mai Chi… và nhiều tài liệu khác đăng tải trên các tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Internet như: Luan van 11 Công trình nghiên cứu “Sử dụng đồ dùng, đồ chơi trong tổ chức hoạt động giáo dục ở trường thực nghiệm Hoa Hồng” nhấn mạnh: “Đồ chơi, học liệu là phương tiện dạy học rất quan trọng trong tiến hành các hoạt động ở trường mầm non.
Để hoạt động hàng ngày của trẻ diễn ra có hiệu quả, đạt được mục đích giáo dục đưa ra cần rất nhiều đồ dùng đồ chơi, những công cụ này gắn liền với các hoạt động hàng ngày của trẻ. Vì vậy, cần linh hoạt trong việc sử dụng và thường xuyên đổi mới để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường” (Đào Thị My, 2017). Trong bài báo của Trần Thị Mỹ Linh (2011) đăng trên tạp chí giáo dục đã đề cập đến “Một số biện pháp sử dụng hiệu quả đồ dùng đồ chơi”.