CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Bản chất của KN Logic hình thức xem “khái niệm là một yếu tố đơn giản của sự suy nghĩ, là một bộ phận của phán đoán, khái niệm chỉ là công cụ suy nghĩ và có tính chất qui ước để thuận tiện cho việc trao đổi sự suy nghĩ”. Các nhà triết học duy tâm hạ thấp vai trò của khái niệm nên xem xét các khái niệm khoa học chỉ là công cụ của nhận thức khoa học, chỉ là những từ mà đằng sau chúng không có hiện thực nào cả.
Logic biện chứng coi “khái niệm là sự kết tinh nhận thức của con người, khái niệm là hình thức tư duy phản ánh sự vận động, phát triển của thực tại khách quan. Khái niệm khoa học là sự tổng kết các tri thức về những dấu hiệu, thuộc tính chung và bản chất giữa các sự vật hiện tượng”. Theo Vương Tất Đạt (1992): “KN là hình thức của tư duy, trong đó phản ánh dấu hiệu cơ bản khác biệt của một sự vật đơn nhất hay lớp các sự vật đồng nhất. Trong KN, thứ nhất, bản chất của các sự vật được phản ánh, thứ hai, sự vật hay lớp sự vật nổi bật trên cơ sở của các dấu hiệu cơ bản khác biệt” [15.
Theo Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành (1998) thì “KN là những tri thức khái quát về những dấu hiệu bản chất và thuộc tính chung nhất của từng nhóm sự vật, hiện tượng cùng loại; về những mối liên hệ và tương quan tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng khách quan”[2, tr108]. Logic biện chứng xem KN có 3 đặc điểm căn bản: - Tính chung: KN là kết quả của quá trình nhận thức đi từ cái đơn nhất đến cái phổ biến, từ cái riêng đến cái chung bằng con đường khái quát hóa. Đơn nhất là những dấu hiệu thuộc tính chỉ có ở sự vật, hiện tượng nhất định. Phổ biến là những dấu hiệu thuộc tính chung có ở nhiều sự vật hay hiện tượng.
Sự tổng hòa các dấu hiệu hoặc thuộc tính chung và bản chất hợp thành nội dung KN. Như vậy, nội dung KN là sự tổng hợp chứ không phải là một phép cộng các dấu hiệu. - Tính bản chất: Trong các dấu hiệu và thuộc tính chung, người ta phân ra được một số thuộc tính và dấu hiệu bản chất, mà nhờ nó, về cơ bản chúng ta có thể phân biệt được loại sự vật, hiện tượng này với loại sự vật hiện tượng khác. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tính phát triển: KN phản ánh sự vật hiện tượng trong sự vận động và biến đổi của chúng, do vậy bản thân nội dung KN cũng luôn có sự vận động, biến đổi để tiếp cận gần hơn tới bản chất của sự vật hiện tượng và có thể dẫn tới hình thành nên một KN mới.
Kết luận: Logic biện chứng xem khái niệm là sự thống nhất biện chứng giữa đơn nhất và phổ biến, giữa cụ thể và trìu tượng, giữa nội dung và hình thức. Kết cấu của KN Trong một KN cho ta biết hai mặt của sự vật hiện tượng đó là nội hàm và ngoại diên. Nội hàm của KN là tập hợp những dấu hiệu cơ bản khác biệt (dấu hiệu bản chất) của các đối tượng được phản ánh trong KN. Ví dụ, nội hàm của KN “áp suất rễ” là “lực gây ra do các tế bào rễ chủ động bơm các chất khoáng lên mạch gỗ ở TV có mạch”.
Ngoại diên của KN là tập hợp tất cả các đối tượng có chứa những dấu hiệu bản chất được phản ánh trong dấu hiệu đó. Ví dụ, ngoại diên của KN “thực vật” là tất cả các loài có khả năng tự dưỡng (quang hợp) đã sống, đang sống và sẽ sống trên trái đất, chúng có thể thuộc các chi, các họ, các bộ, các ngành với hình thái giải phẫu, đặc điểm sinh lý, cấu trúc di truyền và mức độ tiến hóa rất khác nhau. Phân loại khái niệm Trong quá trình nhận thức, người ta phân biệt hai loại khái niệm: + Khái niệm giống là KN phổ biến hơn, rộng hơn so với khái niệm loài. + Khái niệm loài là KN hẹp, ít phổ biến hơn so với khái niệm giống Cùng một khái niệm, nhưng trong mối quan hệ với KN phổ biến hơn, rộng hơn thì được gọi là khái niệm loài, nhưng trong mối quan hệ với khái niệm hẹp, ít phổ biến hơn thì nó là khái niệm giống.
Ví dụ: Khái niệm giống Khái niệm loài ĐV ĐV có xương sống ĐV có xương sống Lớp thú Lớp thú Bộ gặm nhấm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mối quan hệ giữa các KN Logic hình thức không đi sâu vào nội hàm của KN nên khi xét về mối quan hệ giữa các KN thì chỉ nặng về ngoại diên. Có một số kiểu quan hệ cơ bản sau đây: * Quan hệ so sánh được và không so sánh được Quan hệ giữa các KN có chung một số dấu hiệu gọi là quan hệ so sánh được. Ví dụ: KN “Động mạch” và “Tĩnh mạch”.
Quan hệ giữa các KN không có dấu hiệu chung nào gọi là quan hệ không so sánh được. Ví dụ: KN “Năng suất Sinh học” và KN “Túi tiêu hóa”. * Quan hệ đồng nhất Hai KN có quan hệ đồng nhất với nhau khi nội hàm của chúng tương ứng với nhau hoặc có thể khác nhau chút ít và có ngoại diên giống nhau, cùng chỉ một đối tượng. Ví dụ: KN “ARN thông tin” và KN “ARN khuôn mẫu”.
* Quan hệ bao hàm (quan hệ lệ thuộc) Hai KN được gọi là bao hàm nhau nếu nội hàm của KN thứ nhất tạo thành một phần nội hàm của KN thứ hai và ngoại diên của KN thứ hai nằm trọn trong ngoại diên của KN thứ nhất. Nói cách khác, một KN ít phổ biến hơn nằm trong KN phổ biến hơn, ngoại diên của KN này nằm lọt trong ngoại diên của KN kia. KN có ngoại diên chứa ngoại diên của KN khác gọi là KN chi phối. KN có ngoại diên nằm trọn trong ngoại diên của KN khác gọi là KN phụ thuộc (lệ thuộc) của KN ấy.
Ví dụ: KN “Động vật” là KN chi phối, KN “Động vật đơn bào” là KN phụ thuộc. * Quan hệ tách rời Hai KN gọi là tách rời nhau nếu nội hàm của chúng loại trừ nhau và ngoại diên của chúng không có phần nào trùng nhau. Ví dụ: KN “Quang hợp” và KN “Ty thể”. * Quan hệ ngang hàng Đây là quan hệ giữa hai KN cùng lệ thuộc trong một KN khác, nhưng có ngoại diên khác nhau.
Ví dụ: KN “mạch gỗ” và “mạch rây” là hai KN ngang hàng lệ thuộc KN “mạch”. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Quan hệ chồng chéo (quan hệ giao nhau) Hai KN có ngoại diên trùng nhau một phần, nghĩa là chúng có chung một số dấu hiệu nhưng lại khác nhau ở một số dấu hiệu khác, hoặc hai KN gọi là chồng chéo (giao nhau) nếu nội hàm của chúng không loại trừ nhau và ngoại diên của chúng có một phần trùng nhau. Ví dụ: KN “ Sinh sản hữu tính” và KN “Sinh sản của TV” * Quan hệ đối lập (quan hệ trái ngược nhau) Hai KN gọi là đối lập nếu nội hàm của một KN không những loại trừ các dấu hiệu của KN kia mà còn thay thế chúng bằng các dấu hiệu ngược lại và tổng ngoại diên của hai KN cùng nằm trong ngoại diên của một KN khác. Đây cũng là một dạng đặc biệt của quan hệ ngang hàng nhưng có nội hàm trái ngược nhau.
Ví dụ: KN “Hấp thụ nước” và KN “Thoát hơi nước” trong KN “Trao đổi nước”. * Quan hệ mâu thuẫn ( Quan hệ phủ nhận) Hai KN được gọi là mâu thuẫn nếu nội hàm của chúng phủ định lẫn nhau và không khẳng định dấu hiệu nào khác, còn tổng ngoại diên của chúng bằng ngoại diên của KN giống chung. Hoặc KN trước phủ nhận KN sau nhưng nội hàm của KN sau không được xác định rõ. Ví dụ: KN “Thuần chủng” và KN “Không thuần chủng”.
Cách phân chia KN Khi nghiên cứu KN, chúng ta phải chỉ ra nội hàm và ngoại diên của chúng. Trong đó thao tác logic vạch ra ngoại diên của KN gọi là phân chia KN. Phân chia một KN có nghĩa là chia các đối tượng nằm trong ngoại diên của một KN lớn thành những nhóm nhỏ, xác định xem trong một KN giống có bao nhiêu KN loài. Mục đích của việc phân chia là để củng cố, mở rộng hiểu biết về đối tượng cần nghiên cứu.
* Cơ sở phân chia Dấu hiệu dùng để phân chia KN gọi là cơ sở phân chia. Có hai loại phân chia: - Phân chia theo sự biến đổi dấu hiệu Là sự phân chia KN giống thành KN loài sao cho mỗi loài vẫn giữ được dấu hiệu nào đó của giống, nhưng dấu hiệu đó lại có chất lượng mới trong các loài. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ví dụ: Sự phân chia ĐV có xương sống thành : Lớp thú, lớp chim, lớp bò sát… - Phân đôi KN Là thao tác logic chia đôi KN lớn thành hai KN nhỏ có quan hệ trái ngược nhau. KN giống được xem như chỉ có hai thuộc tính đối lập, còn KN loài mang một trong hai thuộc tính đó.
Ví dụ: KN “TV bậc cao” được phân đôi thành KN “TV hạt trần” và “TV hạt kín” * Qui tắc phân chia KN - Phân chia phải cân đối: Tổng ngoại diên của các thành phần phân chia bằng ngoại diên của KN bị phân chia. Ví dụ khái niệm giao tử được phân chia thành hai khái niệm nhỏ là giao tử đực và giao tử cái. - Phân chia phải theo một cơ sở nhất định: Trong quá trình phân chia có thể theo nhiều cách khác nhau tùy theo dấu hiệu lựa chọn nhưng tổng ngoại diên của các thành phần chia phải bằng ngoại diên của KN bị phân chia. Trong một cách phân chia, chỉ được căn cứ vào một dấu hiệu xác định nào đó và phải giữ nguyên dấu hiệu ấy trong suốt quá trình phân chia.
- Phân chia phải liên tục: KN giống bị phân chia phải chuyển tới các loài gần gũi, chứ không được chuyển sang các loài xa. Khi phân chia không được vượt cấp, nghĩa là KN loài phân chia ra phải là KN loài gần nhất. - Các KN nhỏ phân chia ra phải ngang hàng, không chồng chéo. - Khi phân chia phải căn cứ vào cùng một thuộc tính hoặc tùy mục đích phân chia mà lấy thuộc tính này hay thuộc tính khác làm căn cứ.
Cách định nghĩa khái niệm Định nghĩa KN: Từ những dấu hiệu bản chất, sắp xếp thành câu định nghĩa sao cho đủ để phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác.