Tổng quan nghiên cứu

Tình trạng đầu tư dàn trải và hoạt động kém hiệu quả tại các dự án công đang là thách thức nghiêm trọng đối với nguồn lực quốc gia. Năm 2014, hệ thống cảng biển Việt Nam đối mặt với tình trạng thừa công suất trầm trọng khi chỉ có cảng Cát Lái vận hành ở mức 87%, trong khi cụm cảng Cái Mép chỉ đạt 8% đến 23% công suất và các cảng phía Bắc chỉ đạt 36% đến 88% công suất thiết kế. Điển hình cho bức tranh này là dự án Cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong tại tỉnh Khánh Hòa, được phê duyệt chủ trương đầu tư vào tháng 3 năm 2005 theo Quyết định số 51/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Dự án được kỳ vọng trở thành đầu mối trung chuyển container quốc tế với quy hoạch ban đầu tiếp nhận tàu 9.000 TEU với tổng mức đầu tư 6.178 tỷ đồng. Đến năm 2010, dự án bị điều chỉnh nâng công suất để đón tàu 12.000 TEU, đẩy tổng vốn lên hơn 9.000 tỷ đồng trước khi chính thức bị rút giấy phép vào tháng 9 năm 2012 do thiếu vốn và vướng mắc kỹ thuật, kéo theo khoản bồi thường vi phạm hợp đồng hơn 66 tỷ đồng. Vấn đề cốt lõi nảy sinh từ việc báo cáo quy hoạch năm 2005 dự báo nhu cầu hàng hóa đạt tới 4,5 triệu TEU/năm dựa trên những lập luận thiếu cơ sở thực tiễn như vị thế chiến lược hay giả thiết về kênh đào KRA.

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá khoa học nhu cầu sơ khởi của dự án cảng Vân Phong, xác định tính khả thi trong việc trở thành cảng trung chuyển quốc tế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc cho công tác thẩm định dự án công. Phạm vi nghiên cứu bao trùm lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam và tiềm năng trung chuyển của 8 quốc gia Đông Nam Á trên các tuyến hải trình quốc tế Á - Âu, Châu Á - Địa Trung Hải và Châu Á - Bắc Mỹ. Kết quả nghiên cứu mang lại hệ thống luận cứ thực chứng quan trọng, giúp các nhà hoạch định chính sách ngăn chặn thất thoát ngân sách và tối ưu hóa hiệu quả đầu tư công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết phân tích nhu cầu sơ khởi của Jenkins và Harberger (1995) kết hợp quy trình thẩm định hai bước của Stojmirovic và Chu (2011). Theo đó, đánh giá nhu cầu sơ khởi trong giai đoạn tiền khả thi giữ vai trò như một bộ lọc quyết định việc tiếp tục hay dừng dự án, tránh lãng phí chi phí lập báo cáo khả thi chi tiết.

Khung phân tích tích hợp mô hình lựa chọn cảng trung chuyển của nhóm tác giả Lirn, Thanopoulou, Beynon và Beresford (2004) thông qua phương pháp phân tích thứ bậc (AHP). Mô hình này chỉ ra rằng quyết định của các hãng tàu phụ thuộc vào ba nhóm yếu tố chính: chi phí vận tải chiếm 35,12%, chi phí tại cảng chiếm 38,12%, và dịch vụ hậu cần cùng chính sách cảng chiếm 26,76%. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng lý thuyết phân loại cảng của Rodrigue (1998) với bốn cấp độ: cảng trung chuyển quốc tế thuần túy xử lý trên 90% hàng trung chuyển (như cảng Tanjung Pelapas đạt 95,8% hay Singapore đạt 81,8%), cảng đầu mối đạt khoảng 50%, cảng cửa ngõ đạt 25% và cảng địa phương. Năng lực cạnh tranh dịch vụ cảng được định lượng thông qua 6 tiêu chí của Chỉ số hiệu quả kho vận (LPI) do Ngân hàng Thế giới ban hành.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp mô hình hóa chi phí so sánh, dựa trên giả định tổng nhu cầu thị trường trong ngắn hạn là cố định. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 11 cảng biển trọng điểm đại diện cho các thị trường lớn tại khu vực Đông Nam Á và Đông Á (Vân Phong, Cái Mép, Lạch Huyện, Singapore, Hong Kong, Laem Chabang, Tanjung Priok, Kuching, Kota Kinabalu, Manila, Sihanoukville, Muara) cùng 2 cảng cửa ngõ quốc tế là Busan (Hàn Quốc) và Colombo (Sri Lanka).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm bao quát các nút giao thông hàng hải then chốt dọc tuyến Biển Đông. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chi phí hành trình và chi phí cảng là vì đây là yếu tố định lượng trực tiếp nhất chi phối quyết định chuyển tuyến của các hãng tàu mẹ và tàu con. Dữ liệu tính toán bao gồm chi phí vận tải đường bộ (2,17 USD/km cho quãng đường trên 55 km), chi phí sà lan thủy nội địa (bằng 1/3 đường bộ), chi phí nhiên liệu tàu biển từ 1.000 đến 18.000 TEU, và phí xếp dỡ tại cảng (THC) thực tế (Hong Kong: 126 USD/FEU, Vân Phong: 130 USD/FEU, Singapore: 219 USD/FEU). Toàn bộ dữ liệu được tổng hợp và phân tích trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng nhu cầu sơ khởi thực tế có thể qua cảng Vân Phong chỉ đạt khoảng 482.294 TEU/năm (tương đương gần 0,5 triệu TEU/năm), chỉ bằng khoảng 10,7% so với mức dự báo 4,5 triệu TEU/năm được đưa ra trong báo cáo quy hoạch năm 2005. Con số này cho thấy sự chênh lệch và lạc quan quá mức lên tới gần 10 lần trong dự báo ban đầu.

Thứ hai, nguồn hàng xuất nhập khẩu nội địa hoàn toàn không ủng hộ Vân Phong. Khu vực miền Trung và Tây Nguyên chỉ đóng góp 2,68% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam (tương đương 0,26 triệu TEU/năm), trong khi miền Nam chiếm 54,1% và miền Bắc chiếm 43,22%. Khi phân tích tuyến vận chuyển, hàng hóa từ miền Bắc đi qua cảng Lạch Huyện sang Hong Kong tiết kiệm được từ 1.230 USD đến 1.263 USD/FEU so với việc vận chuyển vào Vân Phong. Tương tự, hàng hóa miền Nam xuất khẩu qua cảng Cái Mép chỉ tốn từ 155 USD đến 481 USD/FEU, thấp hơn rất nhiều so với mức 1.060 USD đến 1.079 USD/FEU nếu đưa ra Vân Phong.

Thứ ba, về năng lực cạnh tranh trung chuyển quốc tế, Hong Kong giữ chi phí tổng thể thấp nhất trên tuyến hải trình quốc tế (2.315 USD/TEU trong trường hợp có kênh đào KRA và 3.315 USD/TEU khi không có kênh KRA) nhờ phí THC thấp ở mức 126 USD/FEU. Ngay cả khi kênh đào KRA hình thành, lợi thế khoảng cách vẫn thuộc về Hong Kong và Singapore chứ không chuyển sang Vân Phong. Do đó, Vân Phong chỉ có khả năng thu hút duy nhất nguồn hàng tàu con từ cảng Sihanoukville (Campuchia) với khoảng 246.465 TEU/năm.

Thứ tư, về chất lượng dịch vụ logistics mềm, Việt Nam chỉ xếp hạng 48 trên toàn cầu theo LPI, đứng sau Singapore (hạng 4), Hong Kong (hạng 15), Malaysia (hạng 25) và Thái Lan (hạng 35). Tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa tại Việt Nam lên tới 53,5% với thời gian thông quan mất 2 ngày, trong khi tỷ lệ này tại Singapore chỉ là 4,82% và Hong Kong là 1,0% với thời gian xử lý chỉ trong 1 ngày.

Thảo luận kết quả

Sự thất bại trong việc chứng minh nhu cầu sơ khởi của cảng Vân Phong bắt nguồn từ tư duy ngộ nhận về lợi thế điều kiện tự nhiên. Dù sở hữu độ sâu tự nhiên lý tưởng 20-25m và vùng vịnh kín gió, Vân Phong lại thiếu hoàn toàn chân hàng nội địa cũng như mạng lưới kết nối hậu cần công nghiệp.

Các dữ liệu phân tích chi phí hành trình có thể được biểu diễn rõ nét qua biểu đồ cột so sánh tổng chi phí vận tải container giữa các cảng khu vực, kết hợp với bảng ma trận chi phí logistics theo từng kịch bản có hoặc không có kênh đào KRA. Biểu đồ này sẽ làm nổi bật sự vượt trội về mặt kinh tế của các cảng hiện hữu như Singapore, Hong Kong và Tanjung Pelapas so với Vân Phong. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu kinh tế hàng hải quốc tế, khẳng định rằng các hãng tàu mẹ chỉ chọn cập bến tại những cảng có khối lượng hàng hóa sẵn có lớn và hiệu quả giải phóng tàu vượt trội, thay vì một địa điểm chỉ có lợi thế kỹ thuật đơn thuần nhưng lại làm tăng chi phí gom hàng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, luật hóa quy định thẩm định nhu cầu sơ khởi bắt buộc trong Luật Đầu tư công. Cơ quan chủ quản là Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết quy trình đánh giá nhu cầu sơ khởi độc lập ngay tại giai đoạn lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, hoàn thành trong khung thời gian 12 tháng tới.

Thứ hai, thiết lập cơ chế dừng dự án kiên quyết trước giai đoạn nghiên cứu khả thi. Hội đồng Thẩm định Nhà nước cần áp dụng tiêu chí định lượng: nếu nhu cầu sơ khởi xác thực đạt dưới 70% công suất thiết kế hòa vốn, chủ đầu tư bắt buộc phải dừng toàn bộ hoạt động chuẩn bị đầu tư. Mục tiêu là cắt giảm 100% chi phí lập báo cáo khả thi tốn kém đối với các dự án không khả thi về mặt thị trường.

Thứ ba, tái cơ cấu quy hoạch hạ tầng cảng biển quốc gia theo hướng tập trung nguồn lực. Bộ Giao thông Vận tải cần ưu tiên nâng cao hiệu suất khai thác cụm cảng Cái Mép - Thị Vải từ mức 23% hiện tại lên trên 75% và hoàn thiện cảng nước sâu Lạch Huyện trong giai đoạn 2026-2028, chấm dứt việc phân tán ngân sách để xây mới các siêu cảng trung chuyển khi thị trường chưa có nhu cầu.

Thứ tư, cải cách toàn diện thủ tục hải quan và nâng cấp dịch vụ logistics mềm. Tổng cục Hải quan cần đẩy mạnh số hóa quy trình thông quan, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế từ 53,5% xuống dưới 15% và rút ngắn thời gian giải phóng hàng xuống dưới 24 giờ vào năm 2027, nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh logistics quốc gia.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan thẩm định đầu tư công tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giao thông Vận tải cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác để đánh giá tính xác thực của các đề xuất dự án hạ tầng quy mô lớn trước khi phê duyệt vốn.

Thứ hai, các viện nghiên cứu chiến lược và đơn vị tư vấn thiết kế quy hoạch hạ tầng giao thông. Tài liệu là cẩm nang giúp các chuyên gia loại bỏ các giả định chủ quan, áp dụng mô hình toán chi phí vận tải thực tế thay vì dự báo lạc quan thiếu căn cứ.

Thứ three, các doanh nghiệp logistics, hiệp hội cảng biển và các nhà khai thác cảng thương mại. Nghiên cứu mang lại góc nhìn sâu sắc về cấu trúc chi phí xếp dỡ THC, hành vi lựa chọn tuyến luồng của các hãng tàu quốc tế, hỗ trợ hoạch định chiến lược kinh doanh cảng biển.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển và Quản trị chuỗi cung ứng. Đây là một điển cứu thực nghiệm mẫu mực về việc ứng dụng lý thuyết kinh tế và công cụ định lượng vào phản biện chính sách công.

Câu hỏi thường gặp

Thứ nhất, tại sao điều kiện tự nhiên nước sâu lý tưởng của vịnh Vân Phong không đủ để biến nơi đây thành cảng trung chuyển quốc tế? Vị trí tự nhiên và độ sâu 20-25m chỉ là điều kiện cần về mặt kỹ thuật, trong khi điều kiện đủ để một cảng trung chuyển tồn tại là khối lượng hàng hóa dồi dào và mạng lưới tuyến tàu feeder kết nối. Hàng hóa nội địa miền Trung chỉ chiếm 2,68% cả nước, khiến chi phí gom hàng của tàu mẹ bị đội lên quá cao.

Thứ hai, nếu kênh đào KRA của Thái Lan được xây dựng thì cảng Vân Phong có tạo được lợi thế cạnh tranh trước Singapore không? Phân tích mô hình chi phí hải trình chỉ ra rằng ngay cả khi có kênh đào KRA, Hong Kong vẫn là điểm đến có tổng chi phí thấp nhất (2.315 USD/TEU) và Singapore vẫn tối ưu về mặt vị trí vận tải. Khoảng cách địa lý của Vân Phong không tạo ra sự cắt giảm chi phí đủ lớn để thuyết phục các hãng tàu thay đổi lộ trình.

Thứ ba, sự khác biệt giữa dự báo ban đầu và nhu cầu thực tế của dự án cảng Vân Phong lớn như thế nào? Báo cáo quy hoạch năm 2005 dự báo lượng hàng qua cảng Vân Phong đạt 4,5 triệu TEU/năm, bao gồm 1,5 triệu TEU hàng xuất nhập khẩu và 3 triệu TEU hàng trung chuyển. Tuy nhiên, kết quả phân tích thực tế chứng minh nhu cầu sơ khởi tối đa chỉ đạt khoảng 0,48 triệu TEU/năm, tức thấp hơn gần 10 lần so với dự báo.

Thứ tư, tại sao hàng hóa xuất nhập khẩu của miền Bắc và miền Nam không chuyển về cảng Vân Phong để xuất khẩu? Chi phí vận chuyển nội địa là rào cản chính. Vận chuyển 1 container từ miền Bắc qua Lạch Huyện đi Hong Kong tiết kiệm hơn 1.230 USD/FEU so với đưa vào Vân Phong; còn tại miền Nam, việc đưa hàng qua cụm cảng Cái Mép tiết kiệm từ 579 USD đến 905 USD/FEU so với chuyển ra Vân Phong.

Thứ năm, thẩm định nhu cầu sơ khởi khác gì so với báo cáo nghiên cứu khả thi truyền thống? Thẩm định nhu cầu sơ khởi được thực hiện ở giai đoạn tiền khả thi nhằm kiểm tra nhanh đối tượng sử dụng và khả năng cạnh tranh về chi phí của sản phẩm so với đối thủ. Quy trình này đóng vai trò quyết định dự án có đáng để bỏ kinh phí lớn thực hiện nghiên cứu khả thi chuyên sâu hay không.

Kết luận

  • Luận văn đã bác bỏ các luận điểm thiếu thực tế về vị thế địa chính trị và tiềm năng kênh đào KRA đối với dự án cảng Vân Phong bằng mô hình định lượng chi phí vận tải.
  • Nghiên cứu xác định nhu cầu sơ khởi thực tế của cảng Vân Phong chỉ đạt khoảng 0,5 triệu TEU/năm, hoàn toàn không tương thích với dự báo 4,5 triệu TEU/năm trong quy hoạch ban đầu.
  • Công trình chứng minh rằng chất lượng dịch vụ hậu cần mềm và nguồn hàng chân đế mới là yếu tố quyết định sự thành bại của một cảng biển, chứ không chỉ dựa vào độ sâu tự nhiên.
  • Đóng góp quan trọng nhất của nghiên cứu là đề xuất thể chế hóa khâu thẩm định nhu cầu sơ khởi độc lập trong toàn bộ quy trình phê duyệt dự án đầu tư công tại Việt Nam.
  • Về lộ trình hành động, cơ quan quản lý cần tiến hành rà soát khung pháp lý thẩm định công trong giai đoạn 2026-2027 và hoàn thiện bộ tiêu chí sàng lọc dự án trước năm 2028. Các nhà hoạch định chính sách hãy áp dụng ngay phương pháp luận thẩm định nhu cầu sơ khởi để bảo vệ nguồn lực tài chính quốc gia và nâng cao hiệu quả đầu tư công.