Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về Chính sách, pháp luật cảng biển Việt Nam Chương 2. Thực trạng Chính sách, pháp luật của Việt Nam về cảng biển Chương 3. Những giải pháp, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện hệ thống Chính sách, pháp luật về cảng biển Việt Nam Phần kết luận - Kiến nghị 4.
Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản sau: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam; Phương pháp thống kê, phân tích, chứng minh: để có số liệu chính xác là cơ sở để làm sáng rõ vấn đề phải dùng phương pháp phân tích số liệu, dữ liệu, thông tin từ đó chứng minh các vấn đề đã đưa ra; Phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa các nội dung có tĩnh lý luận; phương pháp quy nạp, di n dịch: được vận dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến chính sách công của một số quốc gia, đặc biệt là các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện. Những giải pháp mang tính khái quát, súc tích người viết dùng phương pháp di n dịch để làm rõ nội dung của giải pháp đó; 6 z Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật của các nước khác…vv. Căn cứ thực hiện đề tài Luận văn Nghiên cứu chính sách, pháp luật về h ệ thống cảng biển Việt Nam dựa trên các tiền đề chính sau: Bộ luật Hàng hải Việt Nam và các Bộ luật liên quan (hệ thống pháp luật Quốc gia); Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước; Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH cả nước; các vùng - khu kinh tế, công nghiệp trọng điểm các tỉnh - thành phố lớn có cảng biển; Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển một số ngành kinh tế có lượng hàng qua cảng lớn (Điện, than quặng, dầu khí, thép, xi măng - VLXD v.v…); Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển toàn ngành GTVT; ngành Hàng hải đến 2020, định hướng đến 2030; Các Đề án, Dự án đầu tư cảng biển và các cơ sở công nghiệp lớn đã được cấp phép hoặc chấp nhận chủ trương đầu tư; Quy hoạch chi tiết phát triển các cảng, nhóm cảng đã được lập, được phê duyệt và kết quả kiểm tra rà soát thực hiện Quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam; Hệ thống các Điều ước quốc Việt Nam tham gia ký kết. Tính mới và những đóng góp của ề tài Trong những năm qua, công tác nghiên cứu lý luận, thực ti n và xây dựng chính sách, pháp luật về cảng biển ở Việt Nam đã được đề cập nhiều trong các văn bản, tài liệu của Nhà nước và các nhà khoa học như Bộ luật Hàng hải Việt Nam, các Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển, các đề án, đề tài của Cục Hàng hải Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải, hệ thống các Hiệp định hàng hải mà Việt Nam đã ký kết với các nước… Việc tham mưu, hoạch định các chính sách, pháp luật phát triển cảng biển Việt Nam thông thường được các cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thu thập tài liệu, phân tích, đánh giá, đề xuất các cơ quan quản lý Nhà nước cao hơn có thẩm quyền ban hành.
Mặc dù trong quá trình xây dựng 7 z chính sách, pháp luật đã áp dụng nhiều cách thu thập thông tin, xin ý kiến bằng văn bản của nhiều cơ quan trong và ngoài nhà nước, các nhà khoa học, những đối tượng bị điều chỉnh, các công ty tư vấn. Tuy nhiên, khó có thể tránh được việc tiếp thu có tính chủ quan, phiếm diện dẫn đến việc ban hành chính sách, pháp luật có nhiều điểm thiếu thực ti n và khó khả thi khi thực hiện và đặc biệt là nhanh lạc hậu. Hiện nay, một số phương pháp phân tích, đánh giá chính sách của các nước để áp dụng xây dựng chính sách tại Việt Nam tuy đúng về phương pháp nhưng khi phân tích, đánh giá dữ liệu, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội lại thiếu thông tin dự báo dẫn đến chính sách chưa phát huy được hiệu quả. Qua tham khảo một số đề tài, luận văn Tiến s , Thạc s các năm gần đây tôi nhận thấy các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về cảng biển, từ nhiều khía cạnh như: phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển; mô hình quản lý cảng; hợp tác quốc tế trong đầu tư cảng biển; bảo vệ môi trường cảng biển… nhưng về vấn đề “chính sách, pháp luật phát triển cảng biển” chưa được nghiên cứu sâu theo hướng hệ thống lý luận tổng quát, xâu chuỗi với hệ thống chính sách, pháp luật của các quốc gia khác, triển khai áp dụng các Điều ước quốc tế … Một số Đề tài chỉ coi chương trình xây dựng chính sách, pháp luật cảng biển là một giải pháp trong rất nhiều giải pháp phát triển hệ thống cảng biển và chưa có tính tổng kết lý luận và gắn thực ti n, phân tích có tính dự báo để đề ra chính sách phù hợp.
Vì vậy, tôi nhận thấy nghiên cứu chuyên sâu “ h nh s ch ph p u t v cảng bi n c iệt N m trong th i hội nh p quốc t ” để có thể đưa ra cơ sở khoa học về xây dựng chính sách, pháp luật về cảng biển Việt Nam. Ý ngh a về m t khoa học Dựa trên phương pháp thu thập tài liệu, phân tích, tổng hợp, chứng minh và kết hợp với thực ti n, đề tài khoa học này củng cố thêm về cách thức, phương pháp xây dựng chính sách, pháp luật; kết hợp hài hòa giữa lý thuyết và thực ti n để đưa ra chính sách, pháp luật phù hợp nhằm phát triển hệ thống cảng biển của Việt Nam đáp ứng các yêu cầu của thời kỳ cách mạng công nghiệp 4. Ý ngh a về m t thực tiễn Vận tải biển trong giai đoạn 2011 - 2018 chiếm tới 80% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Tổng khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển năm 2018 cao gấp 2 lần năm 2011, tăng trưởng bình quân 9,18%/năm, trong đó hàng container tăng 8 z 2,73 lần, tăng trưởng bình quân đạt 13,4%/năm (nguồn Bộ GTVT).
Vì vậy, nghiên cứu chính sách, pháp luật về cảng biển của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế cho phép chúng ta xem xét, đánh giá ưu, nhược điểm, những tồn tại, hạn chế trong chính sách, pháp luật về cảng biển của Việt Nam đến thời điểm hiện tại. Từ những cơ sở dữ diệu hiện có, trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội và kết hợp với các mô hình dự báo để hoạch định chính sách, pháp luật phù hợp phát triển cảng biển tại Việt Nam trong vài thập kỷ tới. 9 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN Ề LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CẢNG BIỂN VIỆT NAM 1. Tổng quan về Cảng biển 1.
c h i niệm iên qu n v cảng bi n Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 quy định về hoạt động hàng hải, bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền viên, cảng biển, luồng hàng hải, cảng cạn, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường, quản lý nhà nước về hàng hải và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào mục đích kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học. Trong đó khái niệm về cảng biển và một số khái niệm liên quan được hiểu như sau: Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng, lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền đến, rời để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện dịch vụ khác. Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng.
Cảng dầu khí ngoài khơi là công trình được xây dựng, lắp đặt tại khu vực khai thác dầu khí ngoài khơi cho tàu thuyền đến, rời để bốc dỡ hàng hóa và thực hiện dịch vụ khác. Kết cấu hạ tầng cảng biển bao gồm cầu cảng, vùng nước trước cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước và các công trình phụ trợ khác được xây dựng, lắp đặt cố định tại vùng đất cảng và vùng nước trước cầu cảng. Khu nước, vùng nước bao gồm vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão trong vùng nước cảng biển. Vùng đất cảng là vùng đất được giới hạn để xây dựng cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, các công trình phụ trợ khác và lắp đặt trang thiết bị.
Vùng nước cảng là vùng nước được giới hạn để thiết lập vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, luồng hàng hải và xây dựng các công trình phụ trợ khác. 10 z Bến cảng là khu vực gồm vùng đất và vùng nước thuộc một cảng biển, được xây dựng cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, vùng nước trước cầu cảng, luồng hàng hải và các công trình phụ trợ khác. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng. Cầu cảng là kết cấu cố định hoặc kết cấu nổi thuộc bến cảng, được sử dụng cho tàu thuyền neo đậu, bốc dỡ hàng hóa, đón, trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác.
Cảng cạn là một bộ phận thuộc kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, là đầu mối tổ chức vận tải gắn liền với hoạt động của cảng biển, cảng hàng không, cảng đường thủy nội địa, ga đường sắt, cửa khẩu đường bộ, đồng thời có chức năng là cửa khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bằng đường biển. Khu neo đậu là vùng nước được thiết lập và công bố để tàu thuyền neo đậu chờ cập cầu, cập kho chứa nổi, chờ vào khu chuyển tải, chờ đi qua luồng hoặc thực hiện các dịch vụ khác. Khu chuyển tải là vùng nước được thiết lập và công bố để tàu thuyền neo đậu thực hiện chuyển tải hàng hóa, hành khách hoặc thực hiện các dịch vụ khác.