PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Ngày nay, phát triển kinh tế biển (PTKTB) được các quốc gia cũng như các địa phương có biển trên thế giới đặc biệt quan tâm. Biển ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế (PTKT), đảm bảo an ninh - quốc phòng (AN-QP) và chủ quyền lãnh thổ của các địa phương, các quốc gia có biển. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự cạnh tranh và hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng diễn biến phức tạp.
Việt Nam nằm phía Tây Biển Đông, có bờ biển dài khoảng 3620 km, nằm trên đường hàng hải đông đúc thứ hai trên thế giới, con đường chiến lược về giao lưu, thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, là nơi tập trung nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN), chiếm tới một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới. Với tiềm năng to lớn đó, biển đã và đang tạo nền tảng, cơ hội cho Việt Nam từng bước trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, đồng thời Việt Nam cũng là một trong các quốc gia chịu hậu quả nặng nề nhất do tác động của môi trường như bão, lụt, ngập mặn,. Bình Định là tỉnh ven biển có nhiều TNTN phong phú, có nguồn nhân lực (NNL) dồi dào chưa khai thác hết, có tiềm năng phát triển các ngành kinh tế đang vươn lên mạnh như: kinh tế hàng hải (vận tải biển, cảng biển), hải sản (khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản), du lịch biển (DLB),. Việc khai thác tiềm năng lợi thế của biển có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của Tỉnh.
Trong thời gian qua, tỉnh Bình Định đã tập trung đầu tư phát triển mạnh kinh tế biển (KTB) và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đưa KTB trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Ngành kinh tế hàng hải (vận tải biển, cảng biển) đã góp phần tích cực vào nguồn thu ngân sách thông qua hệ thống thuế, phí và lệ phí cảng, vận chuyển hàng hóa, tạo một lượng lớn về công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần ổn định an sinh xã hội; Ngành hải sản (khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản) đã có nhiều đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế (PTKT), trở thành ngành mũi nhọn, đóng góp lớn vào ngân sách, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động của Tỉnh. Đáng chú ý là từ năm 2013 đến nay, các chính sách hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ nhiên liệu, thiết bị máy móc,… được thực hiện tốt đã góp phần cho ngư dân có điều kiện đóng mới, nâng công suất tàu cá, mua sắm 2 trang thiết bị và ngư lưới cụ, mở rộng ngư trường, bám biển dài ngày khai thác thủy sản (KTTS) hiệu quả hơn. Từ năm 2013-2017, bình quân mỗi năm ngư dân trong Tỉnh đã đóng mới 189 tàu cá công suất lớn; công suất bình quân 156 CV trở lên/tàu.112 tàu, tổng công suất 1.469 tàu công suất từ 90 CV trở lên, thành lập 204 tổ đoàn kết và 1 hợp tác xã KTTS để hỗ trợ nhau trong việc tìm ngư trường, giúp đỡ nhau khi gặp hoạn nạn, thay phiên vận chuyển sản phẩm vào bờ,… mang lại hiệu quả thiết thực [16], [17], [18], [19], [20].
Cơ sở hạ tầng (CSHT) và dịch vụ hậu cần nghề cá được đầu tư phát triển. Khu neo đậu tàu thuyền đã được Nhà nước đầu tư khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân neo đậu và bán sản phẩm. Trên địa bàn Tỉnh có 3 doanh nghiệp (DN) và 6 cơ sở dịch vụ thu mua, chế biến hải sản và 30 cơ sở chuyên cung cấp nước đá cho ngư dân. Những năm qua, giá trị sản xuất (GTSX) ngư nghiệp của Tỉnh tăng bình quân trên 9,1%/năm.
Hàng năm nghề KTTS đã giải quyết việc làm cho trên 15.000 lao động trực tiếp và trên 3.000 lao động làm dịch vụ hậu cần nghề cá [20]. Đời sống vật chất và tinh thần người dân ở các xã ven biển ngày càng được cải thiện. Sự lớn mạnh của các đội tàu đánh bắt cá đã góp phần thiết thực vào PTKT, đồng thời góp phần bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển đảo của tổ quốc; Ngành DLB đóng góp lớn vào nền kinh tế, doanh thu ngành du lịch và thu nhập xã hội từ du lịch không ngừng tăng lên qua các năm; với tốc độ tăng trưởng về doanh thu ngành du lịch thì mức độ đóng góp của ngành du lịch Bình Định cho ngân sách nhà nước (NSNN) cũng tăng lên nhanh chóng, cả về quy mô lẫn tốc độ theo chiều hướng năm sau tăng hơn năm trước. Tuy nhiên, PTKTB của Tỉnh chưa theo hướng bền vững (BV) và đang gặp nhiều khó khăn.
Đối với ngành kinh tế hàng hải (vận tải biển, cảng biển), việc đầu tư dàn trải, thiếu quy hoạch đồng bộ, hệ thống cảng chưa được kết nối tối ưu giữa các cảng, bên cạnh đó chưa kết nối đồng bộ với hệ thống giao thông đường bộ, đường không, đường sắt, đường thủy, đặc biệt là kết nối với các đầu mối quan trọng đó là các cửa khẩu, sân bay, ga tàu để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, khu vực kinh tế trọng điểm Miền Trung (KVKTTĐMT) và tỉnh Bình Định; Ngành hải sản còn tình trạng khai thác mang tính hủy diệt, khai thác trái phép trên vùng biển nước ngoài. Hải sản khai thác trên biển chưa được bảo quản kịp thời và đúng quy trình công nghệ nên làm cho chất lượng hải sản bị giảm sút. Các mặt hàng hải sản của Tỉnh chủ yếu phát triển theo chiều rộng, nghiêng về số lượng hơn chất lượng, dẫn tới hiệu quả kinh tế thấp; việc đánh bắt và khai thác vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán, ít 3 có DN lớn có thương hiệu nổi trội; sự cạnh tranh quyết liệt giữa các DN dẫn tới hiệu quả đánh bắt không cao. Đội tàu biển mới chủ yếu đảm nhận các tuyến nội địa và quanh khu vực Đông Nam Á; trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm tham gia thị trường vận tải quốc tế.
Năng suất khai thác thuỷ sản giảm, hiệu quả khai thác xa bờ thấp. Môi trường sinh thái và nguồn lợi thủy sản (NLTS) vẫn tiếp tục giảm. Bên cạnh đó công tác tìm kiếm thị trường, dự báo ngư trường, công tác thống kê còn bất cập; Ngành DLB thiếu sự quy hoạch tổng thể (QHTT), đồng bộ và tổng hòa từ nhiều khía cạnh của nền kinh tế trong Tỉnh nói riêng và KVKTTĐMT nói chung; hiệu quả trong quản lý du lịch chưa cao, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước (QLNN) chưa ngang tầm với nhiệm vụ trước mắt và lâu dài; v. Những hạn chế này đặt ra cho chính quyền tỉnh Bình Định bài toán lớn trong việc quản lý phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững (PTKTBTHBV).
Với cách tiếp cận theo góc độ QLNN về PTKTBTHBV, trong những năm qua, có thể thấy chính quyền tỉnh Bình Định đã có chủ trương, chiến lược, quy hoạch, chính sách nhằm PTKTBTHBV. Tuy nhiên những chủ trương, chiến lược, quy hoạch, chính sách này mới là bước đầu, chưa đồng bộ, nhất quán, chưa tạo môi trường thuận lợi để PTKTBTHBV; tổ chức bộ máy quản lý và công tác kiểm tra, giám sát cũng còn nhiều thiếu sót, thực hiện chưa nghiêm. Do đó, việc khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý PTKTB tại tỉnh Bình Định, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp nhằm quản lý PTKTBTHBV tại tỉnh Bình Định là cấp thiết, có tính thời sự cao, có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn. Từ những phân tích, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững tại tỉnh Bình Định” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan 2. Các công trình nghiên cứu về quản lý phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững của Việt Nam và nước ngoài 2. Các công trình nghiên cứu về quản lý phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững của Việt Nam Nguyễn Thị Tú (2000), Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái biển Việt Nam trong xu thế hội nhập, đề tài cấp Bộ [55]. Đề tài đã làm rõ thực trạng về PTDL sinh thái biển Việt Nam trong xu thế hội nhập.
Qua đó, đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những thành công, hạn chế của quá trình PTDL sinh thái biển Việt Nam để làm cơ sở đề xuất những định hướng, giải pháp cho quá trình PTDL sinh thái biển Việt Nam. Đề tài mới chỉ nghiên cứu về du lịch 4 sinh thái biển mà chưa nghiên cứu đến các hoạt động, lĩnh vực khác trong nội dung PTKTB và nghiên cứu ở Việt Nam nói chung chứ chưa nghiên cứu cụ thể tại một địa phương nào. Trần Quốc Quỳnh (2003), Bàn về phát triển kinh tế xã hội bền vững ở Việt Nam, truy cập từ http://tailieuso.vn/handle/TTHL_125/268 [48]. Bài báo đã đề cập đến quan điểm PTBV từ ngày xưa đến hôm nay, trãi qua kinh nghiệm cuộc sống lâu đời, ngày nay xã hội loài người đã nhận thức đầy đủ về khái niệm PTBV tại nhiều quốc gia trên khắp hành tinh.
Tuy vậy, Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều thách thức và những vấn đề nóng bỏng về PTBV. Bài báo đã đưa ra một số nội dung cần được quan tâm đầy đủ và ưu tiên hơn trong quá trình PTBV. Những vấn đề này nếu không được triển khai thực hiện kịp thời, khi đã quá muộn sẽ rất tốn kém và hậu quả khó lường trước. Tuy nhiên bài báo chỉ mới dừng lại ở việc bàn về phát triển KT-XH nói chung mà chưa đề cập đến vấn đề quản lý PTKTBTHBV.
Trần Nguyễn Tuyên (2006), Phát triển bền vững - kinh nghiệm quốc tế và định hướng giải pháp đối với Việt Nam, truy cập từ http://tailieuso.vn/handle/ TTHL_125/267 [56]. Bài báo này phân tích kinh nghiệm quốc tế về PTBV, một số vấn đề rút ra đối với việc thực hiện chiến lược PTBV ở Việt Nam và đưa ra những kiến nghị đối với Việt Nam trong việc thực hiện chiến lược PTBV. Tuy nhiên bài báo chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu kinh nghiệm một số nước trên thế giới về PTBV và một số giải pháp đối với Việt Nam mà chưa đề cập đến PTBV về KTB và chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể cho một địa phương nào. Vũ Thị Minh Loan (2007), Quản lý nhà nước trong việc nâng cao thị phần vận tải của đội tàu biển Việt Nam, luận án tiến sĩ kinh tế, Viện nghiên cứu kinh tế và phát triển, Hà Nội [40].