Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng 1. Quy định này quy định về chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; thi tốt nghiệp, công nhận và cấp bằng tốt nghiệp. Quy định này áp dụng đối với sinh viên các khóa đào tạo hệ chính quy ở trình độ đại học và cao đẳng theo hệ thống tín chỉ (chương trình đào tạo truyền thống, chương trình đào tạo theo định hướng nghề nghiệp - ứng dụng (POHE), chương trình tiên tiến, chương trình chất lượng cao).
Chương trình đào tạo 1. Chương trình đào tạo (sau đây gọi tắt là chương trình) cần thể hiện rõ: trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình. Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành, kiểu ngành chính - ngành phụ, kiểu 2 văn bằng) và được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp. Đề cương chi tiết của từng học phần phải thể hiện rõ số lượng tín chỉ, điều kiện tiên quyết (nếu có), nội dung lý thuyết và thực hành, cách thức đánh giá học phần, giáo trình, tài liệu tham khảo và điều kiện thí nghiệm, thực hành, thực tập phục vụ học phần.
Chương trình được thực hiện với khối lượng kiến thức tối thiểu tích lũy158-160 tín chỉ đối với khoá đại học 5 năm; 128-130 tín chỉ đối với khoá đại học 4 năm; 90-93 tín chỉ đối với khoá cao đẳng 3 năm. Mô-đun, Học phần, Tín chỉ 1. Mô-đun là một hoặc một nhóm các học phần giúp cho người học tích lũy được những năng lực nhất định trong hồ sơ năng lực. Trong chương trình đào tạo, các mô-đun 9 được sắp xếp theo một hệ thống tuần tự giúp người học dần đạt được các năng lực từ mức thấp đến mức cao.
Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho người học tích lũy trong quá trình học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố hợp lý trong các mô-đun và trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần được ký hiệu bằng một mã riêng được quy định như sau: Mã học phần bậc đại học gồm 2 ký tự chữ viết tắt tên Khoa phụ trách học phần và 5 ký tự số trong đó 2 ký tự số đầu tiên chỉ học phần ở khối kiến thức (01: đại cương, 02: cơ sở ngành, 03: chuyên ngành), 3 ký tự số sau do Khoa chuyên môn quy định.
Học phần của chương trình đào tạo theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) được bắt đầu bằng chữ P trước 2 ký tự chữ viết tắt tên khoa. Học phần trong chương trình đào tạo của bậc cao đẳng sẽ bắt đầu bằng chữ C trước 2 ký tự viết tắt tên khoa. Học phần được giảng dạy bằng tiếng Anh, sau 2 ký tự viết tắt tên khoa là chữ E. Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.
a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình mà sinh viên phải tích lũy. b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của tổ công tác sinh viên nhằm mở rộng kiến thức chuyên môn hoặc được tự chọn tùy ý để tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho mỗi chương trình. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 tiết thực hành, thí nghiệm (một tiết học được tính bằng 50 phút); 45 giờ thực tập tại cơ sở; hoặc 45 giờ làm tiểu luận, đồ án, khóa luận tốt nghiệp.
Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân. Việc tính số giờ giảng dạy của giảng viên cho các học phần trên cơ sở số giờ giảng dạy trên lớp, số giờ thực hành, thực tập (theo danh mục chương trình đào đạo được phát hành hàng năm), số giờ chuẩn bị khối lượng tự học cho sinh viên, đánh giá kết quả tự học của sinh viên và số giờ tiếp xúc sinh viên ngoài giờ lên lớp bằng điểm kiểm tra giữa kỳ hoặc semina hoặc bài tập lớn. Đánh giá kết quả học tập Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau: 10 1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ.
Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần trong chương trình đào tạo đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, B+,B, C+,C, D+, D tính từ đầu khóa học. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần trong chương trình đào tạo và được đánh giá bằng các điểm chữ A, B+, B, C+, C, D+, D mà sinh viên đã tích lũy được, tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ. Chương II NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN Điều 5.
Nhiệm vụ của giảng viên Ngoài các nhiệm vụ và quyền theo quy định của pháp luật hiện hành và theo quy định về tổ chức và quản lý của Học viện trong giảng dạy, giảng viên còn có các nhiệm vụ sau: 1. Trước khi lên lớp phải chuẩn bị đầy đủ bài giảng và các tài liệu liên quan đến bài giảng, trang phục gọn gàng và lịch sự. Lên lớp đúng và đủ giờ, đúng thời khóa biểu giảng dạy. Đeo thẻ công chức/viên chức khi lên lớp.
Cử lớp trưởng lớp học phần. Theo dõi tình hình học tập của sinh viên, ký xác nhận vào “Sổ theo dõi giảng dạy và học tập” hoặc “Sổ nhật ký thực tập - thực hành” của lớp khi lên lớp. Đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Trực tiếp ra đề kiểm tra, chấm bài kiểm tra sau 1 tín chỉ.
Chuẩn bị, bổ sung ngân hàng đề thi đối với học phần, môn học được giao phụ trách. Khi lên lớp giảng viên không được sử dụng điện thoại di động, không hút thuốc, say bia rượu. Nộp điểm chuyên cần, điểm kiểm tra giữa kỳ và điểm thi theo quy định tại Khoản 5 Điều 22 của Quy định này. Làm nhiệm vụ coi thi và chấm thi.
Nhiệm vụ và quyền của sinh viên Ngoài các nhiệm vụ và quyền theo quy định hiện hành của pháp luật, trong học tập sinh viên còn có các nhiệm vụ và quyền sau: 11 1. Nắm vững tiến trình đào tạo, kế hoạch đào tạo, thời khóa biểu, lịch thi, nội quy, quy chế tổ chức đào tạo, quy định của Học viện và kết quả học tập trên trang Website của Học viện. Có mặt đúng giờ, tham dự đầy đủ các giờ lý thuyết, thực hành, serminar, các buổi thi và các hoạt động học tập khác theo quy định. Khi vào lớp phải đeo Thẻ sinh viên, có vở và ghi chép bài đầy đủ các học phần.
Không được sử dụng điện thoại di động, không hút thuốc, uống rượu, bia trong giờ học. Đóng học phí đầy đủ và đúng hạn theo quy định của Học viện. Đeo thẻ sinh viên khi đến công sở, giảng đường, thư viện, khi đi thi và thực hiện đúng quy định trong phòng thi.Trường hợp không có thẻ sinh viên, sinh viên phải xuất trình giấy tờ tùy thân có dán ảnh (Giấy chứng minh nhân dân/ Hộ chiếu/ Giấy xác nhận là sinh viên do Ban CTCT&CTSV cấp). Kiến nghị, phản ánh cho ban Quản lý đào tạo Học viện về công tác giảng dạy, học tập, thi, kiểm tra, công tác phục vụ.
Tham gia đánh giá, góp ý nội dung, chương trình giáo dục, điều kiện học tập, giảng viên và cán bộ phục vụ khi có yêu cầu. Lớp trưởng lớp học phần báo cáo số sinh viên có mặt và danh sách sinh viên vắng mặt cho giảng viên, cuối buổi lấy chữ ký của giảng viên vào “Sổ theo dõi giảng dạy và học tập” hoặc “Sổ nhật ký thực tập - thực hành”. Trước khi thi học kỳ, lớp trưởng nộp các sổ trên cho ban Quản lý đào tạo. Lớp trưởng báo cáo với trợ lý đào tạo và ban Quản lý đào tạo để chỉnh sửa khi phát hiện có sai lệch số tín chỉ, tên học phần, học phần trùng nhau so với Danh mục chương trình đào tạo.
Sinh viên kiểm tra thông tin cá nhân trên website và bổ sung khi còn thiếu. Chương III TỔ CHỨC ĐÀO TẠO Điều 7. Thời gian và kế hoạch đào tạo 1. Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức đào tạo theo khóa học, năm học và học kỳ.
Thời gian của năm học bắt đầu từ giữa tháng 8 năm trước và kết thúc vào cuối tháng 6 năm sau. Năm học được chia thành hai kỳ học, mỗi kỳ học chính có 15 tuần học và 03 tuần thi. Trường hợp đặc biệt, Trưởng ban Quản lý đào tạo đề nghị Giám đốc Học viện quyết định thêm kỳ học hè. Thời gian hoạt động giảng dạy của Học viện trong ngày: từ 6h30 đến 21h10.
Thời gian thiết kế cho một khóa học trong Học viện được quy định như sau: - Bậc đại học hệ chính quy: Ngành Kỹ thuật cơ khí, Kỹ thuật điện - điện tử, Công thôn, Công nghệ thông tin, Thú y và Kỹ thuật tài nguyên nước: 5 năm; các ngành, chuyên ngành còn lại: 4 năm. 12 - Bậc cao đẳng hệ chính quy: 3 năm. - Đào tạo liên thông từ bậc cao đẳng lên đại học: Từ 2 đến 4 năm, thời gian đào tạo được xác định trên cơ sở học phần và khối lượng tích lũy quy định cho từng chương trình và trình độ đào tạo theo tín chỉ.