Tổng quan luận án

Đề tài "Nghiên cứu so sánh tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong" do nghiên cứu sinh Kim Sang Ho thực hiện, thuộc ngành Triết học (mã số: 9 22 90 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Lan, được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2020.

Trong lịch sử tư tưởng phương Đông, khái niệm chính trị trong Nho giáo không tách rời đạo đức con người và đạo lý gia đình, thể hiện qua mối quan hệ mật thiết giữa các mệnh đề "tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ" của sách Đại học. Ở cả Việt Nam và Hàn Quốc, Nho học từng giữ vị trí hệ tư tưởng thống trị đời sống chính trị và tinh thần qua các triều đại phong kiến. Tại Việt Nam, Nho giáo đạt bước phát triển quan trọng vào thời Hậu Lê; trong khi tại Hàn Quốc, Nho giáo phát triển mạnh mẽ từ sau khi vương triều Joseon được thiết lập vào cuối thế kỷ 14 gắn liền với việc tiếp thu Tính lý học. Lê Quý Đôn (1726–1784) và Jeong Yak Yong (1762–1836, hiệu Đinh Nhược Dung / Trà Sơn / Dự Do Đường) là hai nhà Nho tiêu biểu của hai quốc gia, cùng sống trong thời kỳ xã hội xuất hiện nhiều bất ổn và khủng hoảng, có ý thức cải cách hiện thực và để lại khối lượng trước tác đồ sộ.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: mặc dù hai tác gia có nhiều công trình nghiên cứu riêng lẻ ở mỗi quốc gia, nhưng việc nghiên cứu Lê Quý Đôn tại Hàn Quốc và nghiên cứu Jeong Yak Yong tại Việt Nam, cũng như các công trình đối chiếu trực tiếp tư tưởng triết học chính trị của hai nhân vật này, mới chỉ dừng lại ở một số kết quả bước đầu. Việc so sánh Lê Quý Đôn với Jeong Yak Yong được xác định là phù hợp hơn so với việc so sánh Lê Quý Đôn với các học giả Tính lý học thời trung kỳ Joseon như Toegye Lee Hwang (1501–1570) hay Yulgok Lee I (1536–1584), bởi Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong cùng sống trong giai đoạn lịch sử tương đương về mặt thời gian và cùng đối diện với tình trạng khủng hoảng xã hội tiền biến động.

Mục đích và nhiệm vụ của luận án được xác định cụ thể:

  1. Mục đích nghiên cứu: Làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt và những đóng góp của hai nhà tư tưởng trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam và Hàn Quốc.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Làm rõ bối cảnh hình thành tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong, so sánh yếu tố thời đại và đời sống chính trị của mỗi nước.
    • Phân tích các nội dung tư tưởng chính trị chủ yếu của Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong.
    • So sánh, đối chiếu các nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của hai tác gia, rút ra nhận định về đóng góp của tư tưởng chính trị của hai ông đối với lịch sử tư tưởng mỗi quốc gia.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của hai học giả.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn ở các tư tưởng triết học chính trị cốt lõi về nội trị (quan điểm về thiên mệnh, vương đạo, đức trị, vai trò của dân chúng trong hệ thống quyền lực). Luận án không đi sâu vào các tư tưởng kinh thế cụ thể (như phương án cải cách ruộng đất, lý luận chế độ đẳng cấp, quan hệ quốc gia - dân tộc trong đối ngoại hay các chính sách hành chính thực thi cụ thể).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng quan hệ thống tư liệu và các công trình nghiên cứu liên quan theo từng nhóm tác gia và bối cảnh quốc gia:

Về tình hình nghiên cứu Lê Quý Đôn tại Việt Nam và quốc tế:

  • Nguồn tư liệu lịch sử và bách khoa: Các bộ sử như Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn), Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim, 1920), Lịch sử Việt Nam (Đào Duy Anh, 1957), Lịch sử Việt Nam (Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, 1971), Lịch sử Việt Nam tập 2 (Phan Huy Lê chủ biên, 2012), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú, 1819).
  • Các công trình về lịch sử tư tưởng và Nho giáo Việt Nam: Triết học và tư tưởng (Trần Văn Giàu, 1988), Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 1 (Nguyễn Tài Thư chủ biên, 1993), Nho giáo tại Việt Nam (Viện Triết học, 1994), Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam (Phan Đại Doãn chủ biên, 1999), bộ sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam (Nguyễn Đăng Thục), Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh (Nguyễn Hoài Văn chủ biên, 2002), Khái lược lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam (Nguyễn Tài Đông chủ biên, 2016).
  • Các công trình chuyên khảo và bài viết chuyên sâu về tư tưởng Lê Quý Đôn: Sách kỷ yếu Lê Quý Đôn nhà bác học Việt Nam thế kỷ XVIII (Ty Văn hóa Thông tin Thái Bình, 1979) với các bài viết của Hoàng Lê, Nguyễn Tài Thư, tiểu sử do Cao Xuân Huy soạn và thư mục do Phạm Hồng Toàn lập; công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam – tư tưởng tổng hợp của Lê Quý Đôn (Nguyễn Đăng Thục, 1974/1998); cuốn Lê Quý Đôn nhà tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVIII (Hà Thúc Minh, 1988); các nghiên cứu trên tạp chí chuyên ngành của Trần Thanh Mại (1960), Văn Tân (1963), Hà Thúc Minh (1968), Nguyễn Tài Thư (1971, 1975, 1976, 1984), Phạm Tú Châu (1976), Cao Xuân Huy (1976), Đỗ Huy (2004), Phan Đại Doãn (2005), Hoàng Văn Thảo (2005), Nguyễn Tài Đông (2011), Lê Thị Lan (2012), Trần Nguyên Việt (2013).
  • Nghiên cứu của học giả quốc tế: Các nghiên cứu tại hội thảo quốc tế của Tưởng Thu Hóa (2009), Lâm Duy Kiệt (2009), Lâm Nguyệt Huệ (2009), Jeon Sung Keon (2016), Kim Young Woo (2016).

Về tình hình nghiên cứu Jeong Yak Yong tại Hàn Quốc:

  • Nguồn tư liệu lịch sử và bối cảnh Joseon: Triều Tiên vương triều thực lục (888 tập, 1894 quyển), Lịch sử quốc dân Triều Tiên (Choi Nam Seon, 1947/2013), Lý giải về lịch sử hậu kỳ Joseon (Jeong Ok Ja), Lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc (Hội nghiên cứu lịch sử triết học Hàn Quốc, 2005), Lịch sử Nho học Hàn Quốc (Ryu Seung Guk, 2009), Lịch sử Nho học Hàn Quốc (Bae Jong Ho, 1990), bộ sách Nghiên cứu tư tưởng Thực học Hàn Quốc (4 tập, Viện nghiên cứu quốc học - Đại học Yonsei).
  • Quá trình sưu tầm và xuất bản văn bản của Jeong Yak Yong: Tự biên soạn mộ chí minh (1822) phân chia tác phẩm thành "Kinh tập" và "Văn tập" (gồm Nhất biểu nhị thư: Kinh thế di biểu, Mục dân tâm thư, Khâm khâm tân thư); bộ Dự Do Đường toàn thư bản Sin Joseon (An Jae Hong và Jeong In Bo biên tập, 1934–1938, 76 tập, 154 quyển); bản khắc kẽm bổ di của Nxb Văn hóa Kyeong-in (1970); và bộ Định bản Dự Do Đường toàn thư (Quỹ Văn hóa và Học thuật Dasan, 2004–2012, 37 tập).
  • Các công trình chuyên cứu về triết học và chính trị của Jeong Yak Yong: Khảo cứu của Hong Yi Seop (1963); luận án tiến sĩ của Lee Eul Ho (1966) nghiên cứu Thù Tứ học và tư tưởng kinh học của Dasan; công trình của Geum Jang Tae (2001) về hệ thống Thực học; sách chuyên khảo của Baek Min Jeong (2007); công trình của Ham Gyu Jin (2008); các luận án tiến sĩ của Ham Young Dae (2008, Đại học Sungkyunkwan) và Jeon Sung Kun (2010, Đại học Korea).

Vị trí của luận án: Luận án định vị là công trình nghiên cứu hệ thống so sánh tư tưởng chính trị Nho học giữa hai tác gia tiêu biểu ở Việt Nam và Hàn Quốc, khắc phục tình trạng nghiên cứu phân tán giữa các chuyên ngành hẹp và đặt tư tưởng chính trị của hai nhà tư tưởng trong khung phân tích triết học chính trị so sánh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng trên nền tảng lý thuyết và hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Cơ sở lý thuyết: Tư tưởng Nho học và tiến trình phát triển của Nho học tại khu vực Đông Á, bao gồm Tính lý học Tống Nho, lịch sử phát triển của Nho học Việt Nam, Tính lý học Joseon, trào lưu Thực học Hàn Quốc, cùng hệ thống quan điểm triết học của Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp so sánh: Sử dụng để đối chiếu bối cảnh lịch sử, tiền đề tư tưởng, nội dung lý luận chính trị và vai trò lịch sử của hai tác gia.
    • Phương pháp phân tích văn bản và lịch sử tư tưởng: Khảo sát trực tiếp các văn bản gốc chữ Hán của hai học giả để bóc tách các khái niệm triết học cốt lõi.
    • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp phân tích triết học với việc tham khảo dữ liệu lịch sử học, xã hội học và văn hóa học.
  • Nguồn tư liệu: Các trước tác chính của Lê Quý Đôn (như Vân đài loại ngữ, Thư kinh diễn nghĩa, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục, Quần thư khảo biện, Dịch kinh phu thuyết, Tứ thư ước giải) và các tác phẩm trong Dự Do Đường toàn thư của Jeong Yak Yong (Mục dân tâm thư, Kinh thế di biểu, Khâm khâm tân thư, các công trình chú giải kinh điển Lục kinh và Tứ thư).
Phương diện tiếp cận Lê Quý Đôn (Việt Nam) Jeong Yak Yong (Hàn Quốc)
Hệ thống tư tưởng chủ đạo Nho giáo dung hòa (ảnh hưởng Tống Nho, tiếp thu Tam giáo) Thực học (thoát ly Tính lý học, quay về Nho học nguyên thủy Thù Tứ)
Khuynh hướng học thuật Khảo chứng kinh điển, tập hợp bách khoa thư Khảo chứng kinh học, cải cách thể chế kinh thế
Nguồn văn bản chủ yếu Vân đài loại ngữ, Thư kinh diễn nghĩa, Kiến văn tiểu lục Dự Do Đường toàn thư, Nhất biểu nhị thư

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 tiến hành phân tích lịch sử nghiên cứu về Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong ở cả hai bình diện trong nước và quốc tế. Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu thành các mảng: bối cảnh lịch sử, triết học bản thể luận - nhận thức luận, và tư tưởng chính trị - kinh tế.

Chương này rút ra kết luận: Các công trình về Lê Quý Đôn tại Việt Nam thường nhấn mạnh khía cạnh bách khoa thư, sử học, văn học, trong khi các công trình thuần túy nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị chiếm tỷ lệ khiêm tốn. Đối với Jeong Yak Yong tại Hàn Quốc, các nghiên cứu phát triển qua 5 thế hệ học giả với khối lượng đồ sộ, song phần lớn tiếp cận từ chuyên môn hẹp (triết học hình nhi thượng học hoặc nghiên cứu kinh tế - xã hội học) mà chưa gắn kết chặt chẽ tư tưởng cải cách xã hội với các nguyên lý triết học chính trị nền tảng. Các nghiên cứu so sánh trực tiếp giữa hai học giả mới chỉ xuất hiện trong một số hội thảo quốc tế từ sau năm 2009.

Chương 2: Bối cảnh chính trị, xã hội, tư tưởng thời Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong

Chương 2 trình bày chi tiết điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống tư tưởng tại Việt Nam (thế kỷ 18) và Hàn Quốc (cuối thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19):

  • Bối cảnh thời đại Lê Quý Đôn: Thể chế chính trị đặc thù "vua Lê – chúa Trịnh" ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong; mâu thuẫn xã hội gay gắt dẫn đến các cuộc khởi nghĩa nông dân; tệ nạn tiêu cực trong thi cử và sự suy thoái của kỷ cương phong kiến. Về tư tưởng, Nho giáo vẫn là hệ tư tưởng thống trị nhưng xu hướng "Tam giáo đồng nguyên" (Nho - Phật - Đạo) phát triển mạnh mẽ nhằm bổ sung cho Nho giáo. Thế kỷ 18 ghi nhận sự phát triển của khuynh hướng khảo chứng kinh điển Nho gia qua các bộ sách diễn nghĩa (Thư kinh diễn nghĩa, Dịch kinh phu thuyết...), phát triển lý luận về Lý - Khí. Về thế giới quan, Lê Quý Đôn xác lập quan điểm Khí nhất nguyên luận ("đầy rẫy trong khoảng trời đất đều là khí cả"), coi Lý là thuộc tính nằm trong Khí; đồng thời khẳng định nguyên lý thiên nhân hợp nhất và đề cao vai trò chủ thể của con người ("người ta tạo ra vận mệnh, chứ không phải vận mệnh tạo ra người").
  • Bối cảnh thời đại Jeong Yak Yong: Vương triều Joseon hậu kỳ sau hai cuộc chiến tranh tàn phá (Nhâm Thìn Oa loạn 1592–1598 và Bính Tý Hồ loạn 1636–1637). Đời sống chính trị bị chi phối bởi nền chính trị bằng đảng (khởi đầu từ tranh chấp giữa phe Seoin và Dongin năm 1572, sau đó là sự độc quyền của phái Noron). Mặc dù các vua Yeongjo và Jeongjo thực thi "Đãng bình sách" để dung hòa phe phái và củng cố vương quyền, mâu thuẫn chính trị vẫn âm ỉ sâu sắc. Tầng lớp hương lại ở địa phương nhũng nhiễu, bóc lột thứ dân. Xã hội nảy sinh nhu cầu cải cách mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời của trào lưu Thực học (kết hợp tri thức nhà Thanh và Tây học) và sự hình thành văn hóa thứ dân.
Tiêu chí so sánh bối cảnh Thời đại Lê Quý Đôn (Việt Nam) Thời đại Jeong Yak Yong (Joseon - Hàn Quốc)
Cơ cấu quyền lực Phân liệt Đàng Ngoài (vua Lê - chúa Trịnh) và Đàng Trong (chúa Nguyễn) Tập quyền quân chủ nhưng bị lũng đoạn bởi chính trị bằng đảng (phe Noron)
Tình trạng khủng hoảng Nông dân khởi nghĩa, suy thoái kỷ cương triều chính Xung đột phe phái cung đình, tầng lớp hương lại địa phương nhũng nhiễu
Khuynh hướng tư tưởng Tam giáo đồng nguyên; phát triển Kinh học trong khuôn khổ Tống Nho Phê phán Tính lý học Tống Nho; trào lưu Thực học, tiếp thu Tây học
Cơ sở bản thể luận Khí bản luận (Lý ngụ trong Khí), Thiên nhân cảm ứng Thượng Đế học (Thượng Đế có ý chí đạo đức), Thù Tứ học

Chương 3: Tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong

Chương 3 phân tích nội dung tư tưởng chính trị của từng tác gia theo các chiều kích lý luận:

  • Tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn:
    • Nguồn gốc và bản chất của chính trị: Chính trị gắn liền với đạo đức, là trật tự tự nhiên và xã hội xuất phát từ đạo Trời; mục tiêu của chính trị là duy trì sự công chính và ổn định nhân sinh.
    • Vương đạo, bá đạo và quan điểm trị đạo dung hòa: Lê Quý Đôn không tuyệt đối hóa vương đạo thuần túy mà chủ trương kết hợp linh hoạt giữa vương đạo và bá đạo, dung hòa giữa đức trị và pháp trị tùy thuộc vào "thời" và "thế".
    • Vai trò của các thành phần trong cơ cấu quyền lực: Đề cao vai trò của bậc minh quân và đội ngũ quan lại mẫu mực, đồng thời nhấn mạnh tư tưởng lấy dân làm gốc (dân bản).
  • Tư tưởng chính trị của Jeong Yak Yong:
    • Nguồn gốc chính trị và cách luận giải về Thiên mệnh: Jeong Yak Yong bác bỏ quan niệm Thiên mệnh siêu hình trừu tượng của Chu Tử học, diễn giải Thiên mệnh gắn với quan niệm Thượng Đế mang ý chí thưởng thiện phạt ác, giám sát hành vi của người cai trị.
    • Tư tưởng về vương đạo: Vương đạo phải gắn liền với thực tiễn trị quốc, chăm lo đời sống kinh tế và an sinh của dân chúng, kết hợp chặt chẽ giữa Lễ trị và Pháp chế.
    • Tư tưởng về Đế mệnh và hầu đới (phương thức hình thành quyền lực): Jeong Yak Yong đưa ra quan điểm quyền lực chính trị hình thành từ dưới lên; người đứng đầu (vua, quan) do dân chúng suy tôn ("hầu đới") để bảo vệ và phục vụ dân chúng, nếu không làm tròn bổn phận thì mất đi tính chính danh.

Chương 4: Sự tương đồng, khác biệt và những đóng góp trong tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong

Chương 4 tổng hợp các điểm tương đồng, khác biệt và đánh giá vị trí lịch sử tư tưởng của hai tác gia:

  • Những điểm tương đồng:
    • Đều xuất phát từ nền tảng Nho giáo, coi trọng mối quan hệ mật thiết giữa tu dưỡng đạo đức cá nhân ("tu thân") và quản trị quốc gia ("trị quốc").
    • Đều thể hiện tư tưởng thân dân, coi trọng sinh mệnh và đời sống của người dân lao động trong hệ thống chính trị.
    • Đều có tinh thần thực tiễn, hướng tới việc khắc phục những tệ đoan xã hội đương thời thông qua cải cách pháp luật và thể chế hành chính.
  • Những điểm khác biệt:
    • Về nền tảng triết học: Lê Quý Đôn xây dựng tư tưởng chính trị trên cơ sở Khí học và Tính lý học có cải biến; trong khi Jeong Yak Yong xây dựng tư tưởng dựa trên việc phê phán Tính lý học, quay về Nho học nguyên thủy kết hợp quan niệm Thượng Đế học mang sắc thái mới.
    • Về nguồn gốc quyền lực chính trị: Lê Quý Đôn duy trì quan điểm Thiên nhân cảm ứng truyền thống; Jeong Yak Yong xác lập luận điểm quyền lực do dân chúng suy tôn từ dưới lên.
    • Về trị đạo: Lê Quý Đôn chủ trương dung hòa vương đạo và bá đạo mềm dẻo theo thời thế; Jeong Yak Yong tập trung thiết kế các định chế pháp lý và hành chính cụ thể nhằm quản trị quan lại và bảo vệ dân chúng.
  • Đóng góp lịch sử:
    • Lê Quý Đôn: Đại diện cho đỉnh cao học thuật và tư tưởng chính trị dung hòa thời Hậu Lê, thúc đẩy sự phát triển của Kinh học và tư duy cải cách thể chế tại Việt Nam.
    • Jeong Yak Yong: Nhà tập đại thành của trào lưu Thực học Joseon, đóng góp các cải cách lý luận chính trị và hành chính học mang tính tiền đề cho giai đoạn chuyển biến sang xã hội cận đại tại Hàn Quốc.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định ba đóng góp mới về mặt khoa học:

  1. Về bối cảnh lịch sử - tư tưởng: Làm rõ và đặt vào thế so sánh tương quan các sự kiện chính trị, biến động xã hội và các trào lưu tư tưởng nổi bật ở Việt Nam thế kỷ 18 và Hàn Quốc thời Joseon hậu kỳ, chỉ ra các nhân tố tác động trực tiếp đến sự hình thành thế giới quan và tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong.
  2. Về phân tích nội dung học thuật: Trình bày và phân tích có hệ thống các nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học chính trị của hai học giả về nguồn gốc quyền lực, thiên mệnh, vương đạo, đức trị, pháp trị và cơ cấu quyền lực xã hội.
  3. Về giá trị so sánh và lịch sử tư tưởng: Xác định rõ các chiều kích tương đồng và khác biệt trong tư tưởng chính trị của hai tác gia; bước đầu lý giải căn nguyên của sự khác biệt từ điều kiện lịch sử, văn hóa, cấu trúc thể chế của mỗi nước; đồng thời đánh giá vị trí, đóng góp của hai ông trong dòng chảy lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam và Hàn Quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Luận án giới hạn phạm vi trong các nguyên lý triết học chính trị cốt lõi về nội trị (thiên mệnh, vương đạo, đức trị, vai trò của dân chúng). Các đề xuất cụ thể thuộc phạm trù kinh thế (như chính sách phân chia ruộng đất, cải cách hệ thống thuế khóa, chế độ thân phận - đẳng cấp xã hội, cũng như các tư tưởng về quan hệ quốc tế và bang giao đối ngoại) chưa được đưa vào phạm vi khảo sát chuyên sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi so sánh sang các tác phẩm kinh thế học chuyên biệt của hai tác gia (như Kinh thế di biểu của Jeong Yak Yong và các văn bản cải cách hành chính, kinh tế thực tế của Lê Quý Đôn); mở rộng đối chiếu tư tưởng pháp luật và mô hình hành chính địa phương giữa Mục dân tâm thư và các ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật có giá trị cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Triết học, Lịch sử Triết học phương Đông, Lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam và Hàn Quốc.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa học, khu vực học Đông Á và nghiên cứu so sánh thể chế chính trị truyền thống.
  • Phần tổng quan tư liệu chương 1 và phần dịch giải, phân tích văn bản gốc ở chương 3 và chương 4 là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các công trình nghiên cứu Nho học so sánh.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả luận án lựa chọn so sánh Lê Quý Đôn với Jeong Yak Yong mà không chọn hai học giả Tính lý học nổi tiếng của Joseon là Toegye Lee Hwang và Yulgok Lee I? Tác giả chỉ ra rằng Toegye Lee Hwang và Yulgok Lee I sống vào thế kỷ 16, thời kỳ vương quyền Joseon tương đối ổn định. Ngược lại, Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong cùng sống trong giai đoạn tương đương nhau về mặt thời gian (thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19), khi cả hai xã hội đều đối mặt với những khủng hoảng thể chế sâu sắc, thôi thúc hai nhà tư tưởng đưa ra các tư tưởng cải cách chính trị quyết liệt.

2. Quan điểm bản thể luận về Lý và Khí của Lê Quý Đôn được luận án làm rõ như thế nào? Qua khảo sát chương "Lý khí" trong Vân đài loại ngữ, luận án làm rõ Lê Quý Đôn đứng trên lập trường Khí nhất nguyên luận: Khí là bản thể thực hữu duy nhất tồn tại khắp trời đất, còn Lý là quy luật ngụ bên trong Khí, không tồn tại độc lập hay đối lập song song với Khí. Điều này chi phối quan điểm chính trị đề cao tính thực tiễn và tính biến dịch theo thời thế của ông.

3. Bằng đảng chính trị và Đãng bình sách trong thời kỳ của Jeong Yak Yong là gì? Bằng đảng chính trị là sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái quan lại xuất thân từ các học phái và thư viện (bắt đầu từ phe Seoin và Dongin năm 1572, sau đó là sự độc quyền của phái Noron). Đãng bình sách là chính sách do các vua Yeongjo và Jeongjo thực thi nhằm hóa giải mâu thuẫn phe phái, tuyển chọn nhân tài từ nhiều đảng phái khác nhau nhằm củng cố vương quyền và ổn định trật tự xã hội.

4. Luận án phân định phạm vi giữa triết học chính trị và tư tưởng kinh thế như thế nào? Luận án tập trung vào các phạm trù triết học chính trị nền tảng (quan niệm về Thiên mệnh, nguồn gốc quyền lực, bản chất chính trị, vương đạo, đức trị và vị trí của người dân trong cấu trúc quyền lực). Các phương án kinh thế cụ thể như chính sách ruộng đất, cơ cấu ngạch thuế, chế độ đẳng cấp và đối ngoại bị loại trừ khỏi phạm vi nghiên cứu để bảo đảm tính tập trung của luận án tiến sĩ ngành Triết học.

5. Bộ "Nhất biểu nhị thư" của Jeong Yak Yong gồm những tác phẩm nào? Bộ "Nhất biểu nhị thư" là các tác phẩm chính trị - kinh tế trọng yếu của Jeong Yak Yong nằm trong phần "Văn tập" (theo cách phân loại tại Tự soạn mộ chí minh), bao gồm: Kinh thế di biểu (經世遺表), Mục dân tâm thư (牧民心書) và Khâm khâm tân thư (欽欽新書).

Kết luận

Luận án "Nghiên cứu so sánh tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn và Jeong Yak Yong" của nghiên cứu sinh Kim Sang Ho là công trình chuyên khảo thuộc ngành Triết học, phân tích và đối chiếu có hệ thống tư tưởng chính trị của hai nhà Nho tiêu biểu ở Việt Nam và Hàn Quốc thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19. Thông qua việc phân tích bối cảnh lịch sử, cơ sở bản thể luận và các khái niệm trị đạo cốt lõi, luận án làm rõ sự tương đồng trong tinh thần thân dân, cải cách thực tiễn cũng như sự khác biệt giữa khuynh hướng dung hòa Tống Nho của Lê Quý Đôn và khuynh hướng Thực học Thù Tứ của Jeong Yak Yong. Công trình đóng góp nguồn tư liệu và khung phân tích chuyên sâu cho lĩnh vực lịch sử tư tưởng triết học so sánh giữa Việt Nam và Hàn Quốc.