Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh – đặc điểm và ý nghĩa lịch sử" (Mã số: 9229001) do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Liên Nhi thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2024), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lương Minh Cừ và TS. Võ Châu Thịnh. Hội đồng chấm luận án và phản biện gồm các nhà khoa học: PGS. Trần Thị Hạnh (Phản biện độc lập 1), PGS. Nguyễn Tài Đông (Phản biện độc lập 2), PGS. Nguyễn Thị Quyết (Phản biện 1), PGS. Vũ Đức Khiển (Phản biện 2) và PGS. Nguyễn Minh Trí (Phản biện 3).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Xuất phát từ vai trò của tư tưởng chính trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là yêu cầu đổi mới tư duy chính trị và hoàn thiện hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc nghiên cứu các giá trị tư tưởng chính trị dân tộc mang tính cấp bách. Giai đoạn lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chứng kiến sự biến động sâu sắc với yêu cầu tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Nguyễn An Ninh (1900 – 1943) là một trí thức, nhà tư tưởng và nhà hoạt động chính trị tiêu biểu ở Nam Kỳ, có đóng góp quan trọng vào bước chuyển tư duy chính trị dân tộc. Tuy nhiên, từ trước đến nay, nhiều công trình chỉ tiếp cận cuộc đời ông ở góc độ lịch sử, văn hóa hoặc báo chí, dẫn đến việc nhận thức về tư tưởng chính trị của ông còn chưa đầy đủ, thậm chí có phần chưa chuẩn xác. Khoảng trống đặt ra là cần một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên biệt dưới góc độ triết học về toàn bộ quá trình hình thành, nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ điều kiện, tiền đề hình thành, quá trình phát triển và nội dung tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh, luận án xác định các đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh đối với lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX cũng như đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Trình bày, phân tích, làm rõ điều kiện lịch sử - xã hội, tiền đề lý luận và nhân tố chủ quan tác động đến sự hình thành tư tưởng chính trị của Nguyễn An Ninh.
    2. Trình bày quá trình phát triển tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh, trên cơ sở đó làm rõ một cách hệ thống những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của ông.
    3. Phân tích, đánh giá, rút ra đặc điểm cơ bản và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đối với yêu cầu lịch sử đầu thế kỷ XX và công cuộc đổi mới hiện nay.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng với kết cấu 3 chương:

  1. Sự ra đời và phát triển của tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh chịu ảnh hưởng, tác động bởi điều kiện lịch sử - xã hội và những tiền đề nào?
  2. Tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh hình thành và phát triển qua những giai đoạn nào, bao gồm những nội dung cơ bản nào?
  3. Tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh mang những đặc điểm cơ bản nào và có ý nghĩa lịch sử ra sao đối với giai đoạn đương thời cũng như đối với thời đại ngày nay?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh cùng các đặc điểm và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng chính trị của ông.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quan điểm về mục tiêu và đường lối chính trị, xây dựng chính thể nhà nước, đảng chính trị, mặt trận nhân dân, phương pháp và lực lượng đấu tranh giành chính quyền của cách mạng Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian và tư liệu: Toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng và các tác phẩm của Nguyễn An Ninh được công bố trong khoảng thời gian từ năm 1915 đến năm 1943, trong đó nguồn tư liệu gốc chủ yếu là tập sách Nguyễn An Ninh – Tác phẩm (Mai Quốc Liên và Nguyễn Sơn sưu tập, biên dịch, Nxb. Văn học, 2009).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được chia thành 3 hướng chính:

1. Hướng nghiên cứu về điều kiện lịch sử - xã hội, tiền đề và nhân tố chủ quan

Các công trình khảo sát bối cảnh lịch sử Việt Nam và thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX gồm: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX của Đào Duy Anh (2020); Tiến trình lịch sử Việt Nam của Nguyễn Ngọc Quang (2004); Theo dòng lịch sử của Phan Văn Quang (2005); Thái độ của sĩ phu Việt Nam thời tiếp xúc Đông – Tây (từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX) của Trần Thuận (2014); bộ sách Lịch sử Việt Nam 15 tập của Viện Sử học (2017, trọng tâm tập 6–8); Đại cương lịch sử Việt Nam (Toàn tập) của Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (2010); Sự chuyển biến của phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX của Đinh Trần Dương (2002); và 100 nhân vật tiêu biểu ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh thế kỷ XX của Nguyễn Thu Vân (2014).

Về tư liệu hồi ức và nhân tố chủ quan, nổi bật có tập sách Nguyễn An Ninh qua hồi ức của những người thân (Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 2009) gồm các thiên hồi ký của bà Nguyễn An Ninh (Cùng anh đi suốt cuộc đời), bà Nguyễn Thị Minh (Nguyễn An Ninh “Tôi chỉ làm cơn gió thổi”), cùng các bài viết của Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Thị Lựu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Thị Một, Mai Quỳnh Hoa, Trương Văn Thoại; công trình Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh – thân thế và sự nghiệp của Phương Lan, Bùi Thế Mỹ (1970); Nguyễn An Ninh của Hà Huy Giáp, Trần Văn Giàu (1988); cùng các bài viết trên Tạp chí Xưa và Nay của Nguyễn Mẫn (2000), Phạm Xanh (2003). Về tiền đề tư tưởng truyền thống và Tam giáo, tác giả tham khảo Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam của Trần Văn Giàu (2011), Con đường Tam giáo Việt Nam của Lê Anh Dũng (1994), Cơ sở văn hoá Việt Nam của Trần Ngọc Thêm (1999) và Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu (2002).

2. Hướng nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển và nội dung tư tưởng

Nhóm công trình trong nước gồm: tập 2 bộ sách Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám của Trần Văn Giàu (2019); Nguyễn An Ninh – Tác phẩm của Mai Quốc Liên và Nguyễn Sơn (2009); Ông Nguyễn An Ninh được tha của Nguyễn Đại Đạo (1927); Chánh trị Nguyễn An Ninh của Văn Đẩu (1937); Nguyễn An Ninh – dấu ấn để lại của Lê Minh Quốc (2019); tập V bộ sách Vùng đất Nam Bộ: Từ năm 1859 đến năm 1945 do Đoàn Minh Huấn và Nguyễn Ngọc Hà đồng chủ biên (2017); Bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – giá trị và bài học lịch sử của Phạm Đào Thịnh (2020); và Lịch sử triết học phương Đông của Doãn Chính (2022).

Nhóm công trình quốc tế gồm có: The birth of Vietnamese political journalism: Saigon, 1916 – 1930 của Philippe M. Peycam (2012); nghiên cứu của Gwendolyn Wright trên tạp chí Pacific Affairs (1971/1991); The colonial bastille: A history of imprisonment in Vietnam, 1862 – 1940 của Peter Zinoman (2021); và Indochina của Pierre Brocheux và Daniel Hémery (2009).

3. Hướng nghiên cứu về đặc điểm và ý nghĩa lịch sử

Các tài liệu tiêu biểu gồm: Hồi ký Nguyễn An Ninh của Lê Văn Thử (1949/2021); các bài viết báo chí của Nguyễn Ngọc Danh (1961, 1964), Trần Bạch Đằng (1990), Lý Chánh Trung (1972); chuyên khảo Tư tưởng triết học của Nguyễn An Ninh của Cao Xuân Long (2019); Nguyễn An Ninh – Nhà tư tưởng tiêu biểu đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ của Phạm Đào Thịnh (2017); tác phẩm Sự tiến hóa liên tục của Nguyễn An Ninh – một lãnh tụ cách mạng hùng biện của Hà Huy Giáp (1989); các bài nghiên cứu của Lê Khánh Chi (1990), Tô Bửu Giám (2003) và Nguyễn Thành (1996).

Hướng nghiên cứu Trọng tâm phân tích của các công trình trước Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Hướng 1: Điều kiện, tiền đề và nhân tố chủ quan Tái hiện bối cảnh kinh tế - xã hội thời thuộc địa, phong trào yêu nước, tư liệu tiểu sử và hồi ức gia đình. Chưa liên kết có hệ thống từ điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa sang các tiền đề lý luận cụ thể (Tam giáo, tư tưởng Pháp, Mác - Lênin) và vai trò của nhân tố chủ quan.
Hướng 2: Quá trình và nội dung tư tưởng Tiếp cận chủ yếu dưới góc độ sử học, văn hóa học, xã hội học hoặc báo chí chính trị. Chưa có công trình chuyên biệt phân tích có hệ thống các nội dung chính trị cốt lõi (chính thể, đảng chính trị, mặt trận, lực lượng, phương pháp đấu tranh) dưới góc độ triết học.
Hướng 3: Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử Đánh giá chung về nhân cách, lòng yêu nước, hoặc lồng ghép nhận định rải rác trong các công trình tổng quát. Rút ra các đặc điểm bản chất và ý nghĩa lịch sử (lý luận và thực tiễn) của riêng tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh đối với lịch sử và thời đại ngày nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và nguyên tắc nghiên cứu

Luận án được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Quá trình nghiên cứu tuân thủ 4 nguyên tắc phương pháp luận:

  • Nguyên tắc khách quan: Xem xét tư tưởng chính trị của Nguyễn An Ninh đúng như nó đã tồn tại trong lịch sử, tránh suy diễn chủ quan hoặc áp đặt các định kiến tả khuynh hay hữu khuynh.
  • Nguyên tắc toàn diện: Đánh giá tư tưởng chính trị trong mối liên hệ hữu cơ với các mặt tư tưởng triết học, văn hóa, tôn giáo, đạo đức và hoạt động thực tiễn của ông.
  • Nguyên tắc lịch sử - cụ thể: Đặt tư tưởng chính trị của Nguyễn An Ninh vào điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể của Việt Nam và thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
  • Nguyên tắc phát triển: Nhìn nhận tư tưởng của ông như một quá trình vận động, chuyển biến không ngừng từ lập trường yêu nước, dân chủ tư sản sang lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án áp dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành lịch sử triết học:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tách các bộ phận cấu thành trong tư tưởng chính trị (đường lối, chính thể, lực lượng, đảng phái) để làm rõ bản chất, sau đó tổng hợp thành hệ thống luận điểm hoàn chỉnh.
  • Phương pháp logic và lịch sử: Kết hợp tiến trình lịch sử cuộc đời hoạt động của Nguyễn An Ninh với logic phát triển nội tại của tư duy chính trị từ năm 1915 đến 1943.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Rút ra các đặc điểm và quy luật từ các trước tác báo chí, diễn thuyết, sách biên khảo của tác giả.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu: So sánh quan điểm của Nguyễn An Ninh với các trào lưu tư tưởng đương thời (như phong trào bất hợp tác của Gandhi ở Ấn Độ, các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX ở Việt Nam) để làm nổi bật nét đặc thù.
  • Phương pháp văn bản học: Khảo sát trực tiếp các văn bản chữ Pháp và chữ Quốc ngữ của Nguyễn An Ninh để trích xuất nội dung chính xác theo nguyên bản.
  • Góc độ tiếp cận: Tiếp cận lịch sử triết học kết hợp với tiếp cận giá trị học.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Nguồn tư liệu gốc chính yếu: Tập sách Nguyễn An Ninh – Tác phẩm (Mai Quốc Liên, Nguyễn Sơn, Nxb. Văn học, 2009, 1366 trang), bao gồm:
    • Các bài viết bằng tiếng Pháp (1923 – 1937) trên các báo: Le Paria, La Cloche Fêlée, L’Annam, La Lutte, L’Avant Garde, cùng hai tác phẩm Lý tưởng của thanh niên An Nam và Nước Pháp ở Đông Dương.
    • Các tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ: Dân ước (dịch Rousseau), tuồng hát Hai Bà Trưng, Tôn giáo, Phê bình Phật giáo, các bài báo trên Đông Pháp thời báo, Thần Chung, Công luận, Trung lập, Dân chúng, Hai bức thư trong tù và các bài thơ.
  • Nguồn tư liệu bổ trợ: Các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, các tập hồi ký và tài liệu lưu trữ liên quan đến phong trào cách mạng Nam Kỳ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Điều kiện lịch sử - xã hội và tiền đề hình thành tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh

Chương 1 tập trung phân tích bối cảnh thời đại và các nguồn gốc tư tưởng tạo nên cơ sở cho sự ra đời của tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh.

1. Điều kiện lịch sử - xã hội

  • Bối cảnh thế giới:
    • Kinh tế - chính trị: Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền và chủ nghĩa đế quốc, đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa. Các cuộc khủng hoảng kinh tế (1900 – 1903) và Chiến tranh thế giới thứ nhất thúc đẩy mâu thuẫn xã hội tư bản. Thất bại của Công xã Paris (1871) được tiếp nối bằng sự phục hồi của phong trào công nhân quốc tế và sự ra đời của Quốc tế II (1889). Đặc biệt, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra thời đại mới, gắn kết phong trào vô sản ở chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nguyễn An Ninh đã ghi nhận vai trò của nước Nga cách mạng trong việc tập hợp nhân loại đánh đổ chủ nghĩa đế quốc.
    • Khoa học kỹ thuật và văn học: Sự phát triển của khoa học tự nhiên (chứng minh tính vận động, chuyển hóa của vật chất) đã củng cố thế giới quan duy vật, đẩy lùi quan niệm duy tâm siêu hình. Nguyễn An Ninh tiếp thu các tri thức khoa học thực nghiệm phương Tây và tư tưởng tiến bộ từ văn học hiện thực (như các tác phẩm của Balzac, Stendhal) để phê phán xã hội thuộc địa.
    • Phong trào canh tân phương Đông: Cuộc vận động đấu tranh hòa bình, bất hợp tác với thực dân Anh do M. Gandhi lãnh đạo tại Ấn Độ cũng tác động đến nhận thức của ông về phương pháp tập hợp lực lượng quần chúng.
  • Bối cảnh Việt Nam:
    • Sau Hiệp ước Patenotre (ngày 6 tháng 6 năm 1884), thực dân Pháp thiết lập chế độ cai trị trực tiếp, chia cắt đất nước thành ba kỳ (Bắc Kỳ với "Hội đồng cố vấn", Trung Kỳ với "Hội đồng bảo hộ", Nam Kỳ với "Hội đồng thuộc địa").
    • Thực dân Pháp thực hiện hai đợt khai thác thuộc địa quy mô lớn (lần 1: 1897 – 1914; lần 2: 1919 – 1929), duy trì quan hệ sản xuất phong kiến đan xen với kinh tế tư bản thực dân mang tính chất bóc lột nặng nề. Xã hội biến đổi thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến với hơn 90% dân số mù chữ do chính sách nô dịch văn hóa, hạn chế mở trường học và mở rộng nhà tù.
    • Cơ cấu xã hội phân hóa sâu sắc thành các giai cấp: địa chủ phong kiến (phân hóa thành bộ phận tay sai và bộ phận yêu nước), nông dân (chiếm đa số, chịu ách áp bức bóc lột nặng nề nhất), tư sản dân tộc (non yếu về kinh tế và chính trị), tiểu tư sản (nhạy bén, giàu lòng yêu nước), công nhân (xuất thân chủ yếu từ nông dân, có quan hệ gắn bó tự nhiên với nông dân), và tầng lớp trí thức mới ("Tân học", "Tây học"). Mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu trong xã hội là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và tay sai phản động.

2. Tiền đề lý luận và nhân tố chủ quan

  • Giá trị văn hóa truyền thống và Tam giáo: Tiếp thu chủ nghĩa yêu nước truyền thống, tinh thần nhân ái, hòa hợp dân tộc; tiếp thu có chọn lọc các yếu tố tích cực của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo trên tinh thần phê phán sự suy đồi của tôn giáo thần quyền để phục vụ sự nghiệp giải phóng con người.
  • Tư tưởng phương Tây: Kế thừa tinh hoa của nền văn minh Pháp, tư tưởng khai sáng (Rousseau, Montesquieu, Voltaire), bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp; đặc biệt là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin (ông là người đã dịch và cho đăng tải tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản trên báo La Cloche Fêlée).
  • Nhân tố chủ quan: Xuất thân từ một gia đình trí thức Nho học Nam Bộ có truyền thống yêu nước; được đào tạo bài bản về luật học tại Pháp; có tư duy lý luận độc lập, sắc sảo, tinh thần dấn thân, gắn bó sâu sắc với quần chúng cần lao và ý chí kiên cường bất khuất trong suốt quá trình hoạt động chính trị và lao tù.

Chương 2: Quá trình hình thành, phát triển và nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh

Chương 2 trình bày hai giai đoạn phát triển và hệ thống hóa 3 cụm nội dung chính trị cốt lõi của Nguyễn An Ninh.

1. Quá trình hình thành và phát triển

  • Giai đoạn từ năm 1925 trở về trước: Giai đoạn hình thành tư tưởng. Nguyễn An Ninh chịu ảnh hưởng lớn từ các giá trị khai sáng phương Tây và tinh thần dân chủ tư sản. Hoạt động chủ yếu là diễn thuyết trước thanh niên (Lý tưởng của thanh niên An Nam), viết báo tiếng Pháp (La Cloche Fêlée), cổ vũ tinh thần tự lực tự cường dân tộc, đòi các quyền tự do dân chủ sơ đẳng và phê phán chính sách thực dân.
  • Giai đoạn từ năm 1925 đến năm 1943: Giai đoạn củng cố, phát triển và chuyển biến lập trường. Ông thành lập tổ chức Thanh niên Cao vọng (1927), tham gia sáng lập và chỉ đạo báo La Lutte (1933), vận động phong trào Đông Dương Đại hội (1936), chỉ đạo thành lập hàng trăm Ủy ban hành động ở khắp Nam Kỳ, tham gia xuất bản báo Dân chúng (1938). Tư tưởng chính trị của ông chuyển biến rõ rệt sang lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ giai cấp cho đến khi hy sinh tại nhà tù Côn Đảo (1943).

2. Nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị

  • Quan điểm về mục tiêu và đường lối chính trị:
    • Mục tiêu tối thượng: Đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, giành lại độc lập hoàn toàn cho dân tộc, thực hiện tự do, bình đẳng, ấm no và hạnh phúc cho quần chúng nhân dân lao động.
    • Đường lối chính trị: Kết hợp giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc với tiến bộ xã hội; gắn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam với phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức và phong trào công nhân quốc tế.
  • Quan điểm về xây dựng chính thể nhà nước, đảng chính trị và mặt trận nhân dân:
    • Chính thể nhà nước: Bác bỏ chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến mục nát và bộ máy thực dân trá hình; chủ trương xây dựng một chính thể nhà nước thực sự vì dân, do quần chúng nhân dân lao động làm chủ, bảo đảm các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và dân sinh.
    • Đảng chính trị: Khẳng định cách mạng muốn thắng lợi phải có một tổ chức chính đảng lãnh đạo, có lý luận khoa học dẫn đường và kỷ luật chặt chẽ. Thông qua tổ chức Thanh niên Cao vọng, ông đã tập hợp và chuẩn bị lực lượng, giới thiệu những hạt giống cách mạng tiêu biểu cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tạo tiền đề quan trọng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930).
    • Mặt trận nhân dân: Nhấn mạnh sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tích cực tổ chức Ủy ban hành động và phong trào Đông Dương Đại hội (1936), đặt cơ sở thực tiễn cho sự ra đời của Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương (cuối năm 1939).
  • Quan điểm về phương pháp và lực lượng đấu tranh giành chính quyền:
    • Lực lượng cách mạng: Động lực chính của cách mạng là khối liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân; đồng thời đánh giá cao vai trò tiên phong, thức tỉnh của tầng lớp thanh niên trí thức tiểu tư sản.
    • Phương pháp đấu tranh: Vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp, công khai trên báo chí, nghị trường và diễn thuyết quần chúng; đồng thời khẳng định dứt khoát rằng để đập tan bạo lực phản cách mạng của chủ nghĩa thực dân thì tất yếu phải sử dụng phương pháp bạo lực cách mạng.

Chương 3: Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh

Chương 3 tổng kết các nét đặc thù bản chất và đánh giá toàn diện giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh.

1. Đặc điểm cơ bản

  • Thể hiện tính dân tộc sâu sắc: Tư tưởng của ông bắt nguồn từ tinh thần yêu nước truyền thống, lấy lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc và quyền lợi của nhân dân lao động Việt Nam làm xuất phát điểm và mục đích cuối cùng của mọi hoạt động lý luận và thực tiễn.
  • Thể hiện tính đặc sắc gắn liền với thực tiễn sinh động: Không dừng lại ở lý thuyết sách vở trừu tượng, tư tưởng chính trị của ông được kiểm nghiệm, bổ sung và hoàn thiện trực tiếp qua phong trào đấu tranh sôi nổi của quần chúng lao động ở Nam Kỳ (phong trào báo chí, biểu tình, bãi công, phong trào Đông Dương Đại hội).
  • Thể hiện bước chuyển từ hệ tư tưởng dân chủ tư sản sang Chủ nghĩa Mác – Lênin: Phản ánh đúng quy luật vận động của lịch sử tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX; từ việc tìm kiếm giải pháp cứu nước qua tư tưởng tự do dân chủ tư sản phương Tây, ông đã nhanh chóng nhận thức được hạn chế của hệ tư tưởng này và chuyển sang tiếp thu, truyền bá và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào cách mạng thuộc địa.

2. Ý nghĩa lịch sử

  • Ý nghĩa lý luận:
    • Góp phần nâng cao trình độ tư duy lý luận và tư duy chính trị của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn chuyển giao lịch sử.
    • Là một trong những cây cầu nối sớm nhất truyền bá các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa Mác vào đời sống chính trị xã hội Nam Bộ.
    • Làm phong phú thêm kho tàng lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam giai đoạn cận - hiện đại.
  • Ý nghĩa thực tiễn:
    • Khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý thức tự cường và tinh thần dấn thân đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lớp thanh niên trí thức.
    • Đặt nền móng tổ chức và chuẩn bị cán bộ cho phong trào cách mạng vô sản tại Nam Kỳ, trực tiếp đóng góp vào quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) và Mặt trận Dân tộc thống nhất.
    • Cung cấp những bài học lịch sử có giá trị đối với công cuộc đổi mới hiện nay: bài học về đổi mới tư duy chính trị; bài học về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bài học về củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy sức mạnh của thanh niên trí thức trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Hệ thống hóa toàn diện nội dung và đặc điểm tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt dưới góc độ triết học đã trình bày, phân tích một cách có hệ thống quá trình hình thành, phát triển và các nội dung cấu thành cơ bản trong tư tưởng chính trị của Nguyễn An Ninh (mục tiêu, đường lối, chính thể, đảng phái, mặt trận, phương pháp và lực lượng cách mạng), làm rõ bước chuyển biến từ lập trường dân chủ tư sản sang lập trường chủ nghĩa Mác – Lênin.
  2. Khái quát và luận giải sâu sắc ý nghĩa lịch sử: Luận án đã rút ra các đặc điểm bản chất và làm rõ ý nghĩa lịch sử cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn của tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh đối với phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX, đồng thời chỉ ra những giá trị kế thừa phục vụ công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

Kiến nghị và giải pháp vận dụng thực tiễn

  • Vận dụng vào đổi mới tư duy chính trị: Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực hoạch định đường lối dựa trên sự kết hợp giữa lý luận Mác - Lênin với thực tiễn cụ thể của đất nước.
  • Vận dụng vào xây dựng hệ thống chính trị: Hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm thực thi quyền làm chủ thực sự của nhân dân theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
  • Vận dụng vào củng cố khối đại đoàn kết toàn dân: Phát huy sức mạnh của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, quy tụ mọi nguồn lực xã hội, đặc biệt là khơi dậy tinh thần cống hiến, dấn thân của tầng lớp trí thức trẻ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu các trước tác và hoạt động của Nguyễn An Ninh trong khung thời gian từ năm 1915 đến năm 1943. Nguồn tư liệu văn bản chủ yếu dựa trên ấn bản Nguyễn An Ninh – Tác phẩm (Mai Quốc Liên, Nguyễn Sơn, 2009) và một số hồi ký, ấn phẩm báo chí lưu trữ. Do điều kiện lịch sử chiến tranh và sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền thực dân, một số văn bản thảo luận nội bộ hoặc tài liệu hoạt động bí mật của tổ chức Thanh niên Cao vọng chưa thể thu thập đầy đủ tuyệt đối.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục sưu tầm, khảo chứng và dịch thuật các tư liệu lưu trữ của Mật thám Pháp (Sûreté) liên quan đến các hoạt động chính trị và phát biểu của Nguyễn An Ninh trong các giai đoạn bị giam giữ tại Khám Lớn Sài Gòn và Côn Đảo.
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa tư tưởng chính trị của Nguyễn An Ninh với các nhà tư tưởng chính trị cùng thời ở Việt Nam (như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Ái Quốc) và khu vực Đông Nam Á đầu thế kỷ XX.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng và lĩnh vực học thuật:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Triết học, Lịch sử, Chính trị học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo hệ thống về lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam cận - hiện đại và phương pháp tiếp cận triết học đối với một nhà tư tưởng cụ thể.
  • Giảng viên các trường đại học, học viện chính trị: Cung cấp tư liệu giảng dạy và bài giảng chuyên đề cho các môn học Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Lịch sử triết học phương Đông, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Cán bộ tuyên giáo, nghiên cứu lý luận và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử và bài học thực tiễn về công tác vận động quần chúng, xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc, tập hợp thanh niên trí thức và đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định giai đoạn nào đánh dấu bước chuyển rõ nét trong tư tưởng chính trị của Nguyễn An Ninh sang chủ nghĩa Mác – Lênin?

Luận án chỉ ra quá trình phát triển tư tưởng chính trị của Nguyễn An Ninh được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn từ năm 1925 trở về trước (chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng dân chủ tư sản Pháp) và giai đoạn từ năm 1925 đến năm 1943. Giai đoạn từ 1925 đến 1943 là giai đoạn tư tưởng chính trị của ông có sự chuyển biến mạnh mẽ và dứt khoát sang lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin thông qua việc thành lập Hội Thanh niên Cao vọng (1927), tham gia nhóm báo La Lutte (1933), vận động phong trào Đông Dương Đại hội (1936) và xuất bản báo Dân chúng (1938).

2. Tác phẩm tư liệu gốc chủ yếu nào được tác giả sử dụng để nghiên cứu tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh?

Luận án sử dụng bộ sách Nguyễn An Ninh – Tác phẩm do Mai Quốc Liên và Nguyễn Sơn sưu tầm, biên dịch, hiệu đính, được Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009 (dày 1366 trang). Bộ sách tập hợp toàn bộ các tác phẩm tiếng Pháp trên các báo Le Paria, La Cloche Fêlée, L’Annam, La Lutte, L’Avant Garde, hai tác phẩm Lý tưởng của thanh niên An Nam, Nước Pháp ở Đông Dương, cùng các tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ như Dân ước, Hai Bà Trưng, Tôn giáo, Phê bình Phật giáo và các bài báo tiếng Việt.

3. Quan điểm của Nguyễn An Ninh về phương pháp đấu tranh giành chính quyền được luận án làm rõ như thế nào?

Luận án khẳng định Nguyễn An Ninh chủ trương kết hợp linh hoạt các hình thức đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp, diễn thuyết, xuất bản báo chí công khai nhằm thức tỉnh dân trí và tập hợp lực lượng quần chúng; đồng thời, trước bản chất tàn bạo của chính quyền thực dân, ông xác định dứt khoát rằng con đường tất yếu để đập tan bộ máy thống trị thực dân phong kiến và giành độc lập dân tộc là phải sử dụng phương pháp bạo lực cách mạng.

4. Đóng góp thực tiễn nổi bật của Nguyễn An Ninh đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Thống nhất được nêu trong luận án là gì?

Nguyễn An Ninh đã sáng lập và lãnh đạo tổ chức Thanh niên Cao vọng, xây dựng phong trào yêu nước rộng khắp Nam Kỳ, qua đó đào tạo và giới thiệu nhiều nhân tố ưu tú cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tạo cơ sở trực tiếp cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930. Bên cạnh đó, việc ông vận động tổ chức phong trào Đông Dương Đại hội và thành lập hàng trăm Ủy ban hành động năm 1936 đã tạo tiền đề thực tiễn vững chắc cho sự ra đời của Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương vào cuối năm 1939.

5. Tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh chịu ảnh hưởng từ những nguồn tiền đề lý luận chủ yếu nào?

Luận án xác định 4 nguồn tiền đề lý luận cơ bản: (1) Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam (đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước); (2) Tư tưởng Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) được tiếp thu có chọn lọc và phê phán; (3) Tinh hoa tư tưởng văn minh phương Tây, đặc biệt là tư tưởng Khai sáng và truyền thống dân chủ của nước Pháp; (4) Thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Liên Nhi đã hoàn thành việc nghiên cứu chuyên biệt, toàn diện về tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh dưới góc độ triết học trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Công trình đã làm sáng tỏ các điều kiện lịch sử - xã hội, tiền đề lý luận, quá trình vận động cùng các nội dung chính trị cốt lõi về mục tiêu, đường lối, chính thể, đảng phái, mặt trận và phương pháp đấu tranh cách mạng. Đồng thời, luận án đã khái quát 3 đặc điểm cơ bản và khẳng định ý nghĩa lịch sử sâu sắc của tư tưởng Nguyễn An Ninh đối với phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX cũng như đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu khoa học có giá trị cho công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam và hoạch định chính sách xây dựng hệ thống chính trị.