Đặt vấn đề Cây lúa (Oryza sativa L) là cây lương thực chính đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, an ninh lương thực với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt một số nước ở châu Á, trong đó có Việt Nam. An ninh lương thực luôn được ưu tiên hàng đầu. Nguồn lương thực chủ yếu của nước ta chủ yếu là lúa gạo. Ngành trồng trọt chiếm 4/5 diện tích đất canh tác của cả nước, gần 85% diện tích lương thực và là nguồn lương thực chính không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu một lượng lớn gạo ra thị trường nước ngoài.
Tuy nhiên, là đất nước 90% dựa vào nông nghiệp nhưng Việt Nam cũng là quốc gia có dân số tăng nhanh. Với dân số 80 triệu người hiện nay và ước tính sẽ đạt 100 triệu người vào năm2020. Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích đất trồng lúa nói riêng ngày càng bị thu hẹp. Để đảm bảo nguồn lương thực trong tương lai giống là một trong những biện pháp quan trọng (Thùy Trang,2012).
Giống là nhân tố quan trọng quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất trong nghành trồng trọt. Để có thể tăng hệ số sử dụng đấtgieo trồng thì bằng cách chúng ta nên sử dụng các loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn hoặc trung ngày.Chọn tạo giống lúa vừa có năng suất cao, vừa có chất lượng tốt là ưu tiên hàng đầu của các nước sản xuất gạo trên thế giới. Các tiêu chí để chọn giống lúa chất lượng cao luôn phụ thuộc vào sở thích tiêu dùng của người dân mỗi vùng ở mỗi quốc gia. Để nâng cao thu nhập từ sản xuất lúa, gạo xuất khẩu cao cần đạt 4 chỉ tiêu chất lượng: hạt gạo thon dài > 7mm, trắng không bị bạc bụng, bác lung và bạc lõi.
Hàm lượng amylose 18-20%, có độ thơm đạt 5 điểm với mùi ngô nổ (Trần Tấn Phương và cs, 2011). n 2 Phú Bình là một huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Thái Nguyên. Có tổng diện tích đất tự nhiên là 24,936 km2; trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 13,570 km2 (chiếm 54,3%); có 7,450 ha trồng lúa (chiếm 55%) do đó nông nghiệp giữ vị trí trong kinh tế của huyện với cây trồng chủ đạo là lúa. Huyện Phú Bình có sông Cầu chảy qua, đây là con sông dùng để cung cấp nước chính để phục vụ nông nghiệp của vùng.Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “So sánh sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chính vụ chất lượng ở Phú Bình”.Mục tiêu Xác định được giống lúa mùa trung chất lượng có sinh trưởng và năng suất cao có triển vọngcho huyện Phú Bình.
Yêu cầu Theo dõi đặc điểm sinh trưởng của các giống lúa chính vụ chất lượng. Theo dõi mức độ nhiễm sâu bệnh hại. Theo dõicác yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa chính vụ chất lượng. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây lúa Đặc điểm về thời gian sinh trưởng cây lúa Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ khi hạt lúa nảy mầm đến khi chín hoàn toàn. Thời gian sinh trưởng phụ thuộc chủ yếu vào giống, nắm được quy luật này là cơ sở của việc xác định thời vụ gieo cấy, cơ cấu giống, luân canh tăng vụ ở các vùng trồng lúa khác nhau. Ở cùng một vùng sinh thái có những giống lúa sau 70-80 ngày đã chín, ngược lại có những giống sau 200 ngày.
Nhân tố ảnh hưởng và có tính quyết định đến thời gian sinh trưởng, phát dục của cấy trồng là điều kiện ngoại cảnh bao gồm: độ dài ngày, nhiệt độ, cường độ chiếu sáng. Với cây lúa, các giống lúa có thời gian sinh trưởng dài hay ngắn quá đều cho năng suất thấp. Trong khi các giống từ 120 - 135 ngày, có khả năng cho năng suất cao hơn. Với thời gian sinh trưởng dài, tỷ lệ sản xuất khô lớn, nhưng tỷ lệ hạt/rơm rạ lại thấp, riêng các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 130 - 150 ngày thì tỷ lệ này đạt cao nhất (Khush, 1990).
Ở miền bắc các giống lúa ngắn ngày có thời gian sinh trưởng 100-115 ngày, giống lúa trung ngày là 116 - 130 ngày. Đặc điểm sinh học của cây lúa Lúa là cây hằng năm.Về mặt phân loại thực vật, cây lúa thuộc họ Graminea (hòa thảo), họ Oryzeae, chi Oryza. Rễ:cây lúa có rễ chùm.Thân:thân cây lúa là loại thân thảo gồm đốt và lóng. Lá:gồm có lá mầm và lá thật.
Một lá lúa hoàn chỉnh gồm các bộ phận: bẹ lá, phiến lá, cổ lá, tai lá và lưỡi lá (thìa lìa). Hoa lúa - hạt lúa:thời kì sinh trưởng của cây lúa .1: Sơ đồ phát triển cây lúa. Chiều cao cây Cây lúa nào có lóng ngắn, thành lóng dày, bẹ lúa ôm sát thân thì thân lúa sẽ cứng chắc, khó đỗ ngã và ngược lại. Nếu đồng ruộng có nhiều nước, sạ cấy dày, thiếu ánh sáng, bọn thiếu đạm thì lóng có khuynh hướng thon dài và mềm yếu làm cây lúa dễ đỗ ngã.
Lúa bị đỗ ngã thì sự thu hút dinh dưỡng và quang hợp bị trở ngại, sự vận chuyển các chất bị cản trở, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ, đưa đến hạt lép nhiều làm giảm năng suất(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Chiều cao cây lúa thích hợp dao động từ 80 - 100 cm vì nếu chiều cao quá cao sẽ là tăng sự đỗ ngã và giảm tỷ lệ vào chắc (Khush, 2001; Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Khả năng đẻ nhánh. Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa, liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành các bông và năng suất cây lúa.
Quá trình đẻ nhánh liên quan đến quá trình ra lá. Thường khi ra lá đầu tiên thì mầm nách ở mắt lá thứ nhất bắt đầu phân hóa, trong quá trình ra các lá tiếp theo cũng tương tự như vậy ở các nhánh tiếp theo. Nhánh không bao giờ phát triển nếu như lá tương đương với nó chưa phát triển xong, nhánh không phát triển nữa khi lá bị khô. Các giống lúa khác nhau có thời gian đẻ nhánh khác nhau (Bùi Huy Đáp, 1978).
n 5 Đẻ nhánh sớm và tập trung sẽ tạo tiền đề cho diện tích lá phát triển nhanh, tăng tỷ lệ nhánh hữu hiệu. Đẻ nhánh gọn cho phép tăng mật độ cấy mà không ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của bộ lá dẫn đến cho năng suất cao(Yosida, 1979). Lá và chỉ số diện tích lá Lá là cơ quan chủ yếu thực hiện chức năng quang hợp của cây, do vậy việc tăng hay giảm diện tích lá có tác động trực tiếp đến khả năng quang hợp, ảnh hưởng đến năng suất lúa. Tổng số lá trên cây ít hay nhiều cũng liên quan đến thời gian sinh trưởng và diện tích lá của quần thể.
Số lá còn thay đổi tùy theo thời vụ cấy, các biện pháp bón phân và chăm sóc khác nhau. Để tăng năng suất lúa thì phải tăng hàm lượng chất khô trước trỗ, tăng khả năng vận chuyển và cuối cùng là tăng quang hợp thời kỳ sau trỗ (Phạm Văn Cường và cs, 2005). Khi nghiên cứu về bộ lúa của một số giống cần quan tâm đến một số đặc điểm hình thái cơ bản: góc độ lá đòng, chiều dài, chiều rộng, màu sắc phiến lá, độ tàn lá. Độ dày lá, góc lá có quan hệ chặt chẽ với khả năng kháng sâu bệnh, khả năng quang hợp và ảnh hưởng đến năng suất lúa (Bùi Huy Đáp, 1999).
Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của lúa Năng suất là yếu tố tổng thể quan trọng nhất, quyết định giống lúa có được sử dụng rộng rãi hay không. Số bông trên đơn vị diện tích Số bông trên đơn vị diện tích hình thành bởi 3 yếu tố: mật độ cấy, khả năng đẻ nhánh và điều kiện chăm sóc, yếu tố ngoại cảnh. Số bông/m2 có ảnh hưởng thuận tới năng suất các giống lúa hiện nay có thể đẻ tới 20-25 nhánh trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, nhưng chỉ khoảng 14-15 nhánh cho bông hữu hiệu, còn lại là nhánh vô hiệu hoặc bông rất nhỏ. Cây lúa chỉ cần có số bông n 6 vừa phải, tăng số hạt chắc trên bông thì tốt hơn là gia tăng số bông trên đơn vị diện tích (Bùi Chí Bửu, 1998).
Số hạt trên bông Số hạt/bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, số hoa phân hóa cũng như thoái hóa. Toàn bộ quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực từ làm đòng đến trỗ. Và số lượng gié, hoa phân hóa được quyết định ngay từ thời kỳ đầu của quá trình làm đòng trong vòng từ 7-10 ngày. Tổng số hạt trên bông do tổng số hoa phân hóa và số hoa thoái hóa quyết định.
Với các giống lúa bông to, kỹ thuật canh tác tốt, bón phân đầy đủ, chăm sóc đúng mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa phân hóa càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít và số hạt/bông càng cao (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Số gié và hoa thoái hóa thường tập trung vào phần gốc bông, số lượng thoái hóa của gié cấp 1 khoảng 4% -5%, gié cấp 2 khoảng 30% -40%, hoa khoảng 20% -25%. Tỷ lệ hạt chắc, lép Tỷ lệ hạt chắc/bông: tăng tỷ lệ hạt chắc/bông hay nói cách khác là giảm tỷ lệ hạt lép/bông cũng là yếu tố quan trọng quyết định năng suất lúa. Tỷ lệ hạt chắc/bông được quyết định ở thời kỳ trước và sau trỗ, nếu gặp điều kiện bất thuận trong thời kỳ này thì tỷ lệ lép sẽ cao.
Tỷ lệ hạt chắc có ảnh hưởng đến năng suất lúa rõ rệt, tỷ lệ hạt chắc còn phụ thuộc vào lượng tinh bột được tích luỹ trên cây, phụ thuộc vào đặc điểm giải phẫu của cây. Tỷ lệ lép/bông không chỉ bị ảnh hưởng của các yếu tố nói trên mà còn bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của giống. Thường tỷ lệ lép giao động tương đối lớn, trung bình từ 5% -10%, ít là 2% -5%, cũng có khi trên 30% hoặc thậm chí còn cao hơn nữa (Nguyễn Văn Hoan, 2006). Sự lép hạt là hiện tượng phổ biến trong các dòng tuyển chọn do ba nguyên nhân chính là nhiệt độ vượt quá mức tối ưu, đỗ ngã và bất thụ do lai hay tính n 7 không tương hợp di truyề n (Jennings và cs,1979).Ở lúa, nguyên nhân dẫn đến lép hạt là do quá trình thụ tinh không thuận lợi, khi ra hoa gặp thời tiết rét hoặc quá nóng, độ ẩm không khí quá thấp hoặc quá cao, làm cho hạt phấn mất khả năng nảy mầm hoặc nhị và nhụy kém phát triển… (Nguyễn Đình Giao, 1997).