đặt vấn đề bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc trƣớc hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại những nền kinh tế mà ở đó Nhà nƣớc tham gia sâu vào hoạt động kinh doanh, và cạnh tranh trực tiếp với các thành phần kinh tế khác trên thị trƣờng. Trong đa số trƣờng hợp khác, lợi ích của Nhà nƣớc đã đƣợc thể hiện thông qua lợi ích của các nhóm chủ thể tham gia thị trƣờng là doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng. Dƣới góc độ lịch sử phát triển, những đặc điểm về hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào nhận thức của con ngƣời về tính nguy hại và mức độ xâm hại của hành vi đó đối với lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ. Trƣớc đây, một số quốc gia có cách tiếp cận cứng khi xác định một hành vi là cạnh tranh không lành mạnh ngay khi nó gây thiệt hại cho các doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành mà không cần xem xét ảnh hƣởng đến các đối tƣợng khác, đặc biệt là ngƣời tiêu dùng.
Hiện nay, cách nhìn nhận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trở nên cân bằng hơn, cơ quan xử lý thƣờng phải đánh giá cả thiệt hại của ngƣời tiêu dùng và các đối tƣợng khác để kết luận về vi phạm. Cần thấy rằng trong một phạm vi thị trƣờng hữu hạn, doanh nghiệp thực hiện một hành vi cạnh tranh bất kỳ cũng đều có khả năng gây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đó, do vậy, nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại của các đối thủ cạnh tranh để xác định một hành vi là không lành mạnh thì sẽ không đầy đủ. Trên thực tế, các hành vi cạnh tranh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khác nhƣng đem lại lợi ích thực tế cho ngƣời tiêu dùng sẽ không bị coi là cạnh tranh không lành mạnh. Ví dụ điển hình là trƣờng hợp quảng cáo so sánh, trƣớc đây bị coi là một trong những hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình, tuy nhiên từ sự cân nhắc lợi ích nó đem lại cho ngƣời tiêu dùng (tiết kiệm thời gian tìm kiếm, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lựa chọn sản phẩm), mà hành vi này đến nay đã đƣợc chấp nhận tại nhiều quốc gia với những điều kiện ràng buộc về tính chính xác, đầy đủ của thông tin để tránh bị các doanh nghiệp lợi dụng công kích đối thủ cạnh tranh.
Tóm lại việc xác định hậu quả thiệt hại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là không giống nhau giữa các thời điểm lịch sử khác nhau và giữa các quốc gia khác nhau, tùy theo chính sách của mỗi nhà nƣớc trong việc quản lý về kinh tế nói chung và trong hoạt động quản lý môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh thƣơng mại. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp hầu nhƣ hƣớng đến mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận của chính mình. Để đạt đƣợc mục tiêu, họ có thể sử dụng nhiều thủ thuật kinh doanh, thậm chí là bất hợp pháp.
Giữa một nền kinh tế thị trƣờng phong phú và đa dạng, sự lựa chọn của ngƣời tiêu dùng bắt đầu bằng sự so sánh giữa hàng hóa của doanh nghiệp này với hàng hóa cùng loại của doanh nghiệp khác. Hàng hóa nào rẻ nhất, tốt nhất thì sẽ đƣợc ƣu tiên lựa chọn. Từ đó mà có cạnh tranh. Thông qua cạnh tranh, ngƣời tiêu dùng và cả xã hội đƣợc hƣởng lợi, vì ai cũng cố gắng để sản xuất ra những sản phẩm với giá cả rẻ nhất, chất lƣợng tốt nhất để có đƣợc lựa chọn của ngƣời tiêu dùng.
Mà một trong những nhân tố tốt nhất để tạo nên ƣu thế đó cho doanh nghiệp chính là quyền sở hữu trí tuệ. Đây là loại tài sản chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong khối tài sản của doanh nghiệp, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Điều này dẫn đến một hệ quả là có những doanh nghiệp không muốn tự vƣơn lên bằng chính khả năng của mình mà lại tìm cách đánh cắp thành quả lao động của ngƣời khác. Do đó, hành vi cạnh 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trở thành bức xúc của những doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Để tìm hiểu khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, ngoài việc nắm đƣợc khái niệm cạnh tranh không lành mạnh nhƣ tác giả đã nêu ở trên, một khái niệm nữa cần đƣợc làm rõ là khái niệm về sở hữu trí tuệ. Mặc dù không có định nghĩa chính thống và trực tiếp thế nào là sở hữu trí tuệ, ta có thể định nghĩa quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ [8, tr. Pháp luật Hoa Kỳ, pháp luật Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc khác trên thế giới không có định nghĩa trực tiếp nhƣ thế nào là sở hữu trí tuệ, mà chỉ có định nghĩa gián tiếp thông qua phân loại sở hữu trí tuệ thành quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Quyền tác giả bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật.
Quyền tác giả còn đƣợc gọi là tác quyền hay bản quyền. Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hóa), tên thƣơng mại, bí mật kinh doanh và các quyền sở hữu công nghiệp khác do pháp luật quy định. Quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục đích kinh tế và quyền định đoạt của các chủ sở hữu các đối tƣợng sở hữu công nghiệp. Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết đƣợc bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt đƣợc với bất kỳ quần thể cây 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền đƣợc.
Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc đƣợc hƣởng quyền sở hữu. Hiện nay vẫn chƣa có khái niệm cụ thể về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đƣợc tiếp cận từ góc độ gián tiếp, theo đó pháp luật liệt kê các hành vi bị cấm. Tại Hoa Kỳ, cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đƣợc đề cập đến tại Điều 43(a) Đạo luật Nhãn hiệu liên bang, hay còn gọi là Đạo luật Lanham (Lanham Act) (1946), mặc dù Đạo luật này có nội dung chủ yếu là các quy định về việc xác lập, duy trì và bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa và dịch vụ.
Theo đó, bên bị hại có quyền khởi kiện đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Điều 43(a) Đạo luật Lanham - Lanham Act, cụ thể nhƣ sau: Bất kỳ ai liên quan đến việc kinh doanh hàng hóa hoặc dịch vụ, hoặc bao bì hàng hóa, sử dụng từ ngữ, thuật ngữ, tên, biểu tƣợng, hoặc hình vẽ, hoặc sự kết hợp của chúng, hay nguồn gốc xuất xứ giả mạo, mô tả gian dối hoặc gây nhầm lẫn (A) Có thể gây nhầm lẫn, hiểu sai hoặc lừa dối về sự liên hệ, liên kết hoặc hợp tác giữa ngƣời này với một ngƣời khác, hoặc về nguồn gốc, khả năng tài trợ hoặc sự chấp nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc hoạt dộng thƣơng mại của ngƣời này từ ngƣời khác đó, hoặc (B) Trong quảng cáo hay khuyến mại mà diễn giải sai lệch bản chất, đặc đỉểm, số lƣợng hoặc nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ hay hành động thƣơng mại của ngƣời này hay ngƣời khác đó, sẽ phải chịu trách nhiệm từ khởi kiện dân sự của bất kỳ ai cho rằng lợi ích của họ bị thiệt hại hoặc có thể bị thiệt hại do hành vi nêu trên. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009 không có khái niệm cụ thể về cạnh tranh không lành mạnh nhƣng Luật đã dành 01 điều (Điều 130) quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ với một số điểm mới hơn và rõ hơn so với Luật cạnh tranh. Theo đó, các hành vi sau đây bị coi là cạnh tranh không lành mạnh: - Sử dụng chỉ dẫn thƣơng mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thƣơng mại của hàng hoá, dịch vụ; - Sử dụng chỉ dẫn thƣơng mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lƣợng, số lƣợng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ; - Sử dụng nhãn hiệu đƣợc bảo hộ tại một nƣớc là thành viên của điều ƣớc quốc tế có quy định cấm ngƣời đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu ngƣời sử dụng là ngƣời đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không đƣợc sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng; - Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tƣơng tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thƣơng mại đƣợc bảo hộ của ngƣời khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thƣơng mại, chỉ dẫn địa lý tƣơng ứng. Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trƣớc hết là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Vì vậy, nó cũng có những đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhƣ đã nêu tại mục 1.